NHỮNG NGÀY ĐỊNH MỆNH
Trong dòng chảy lịch sử,dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao năm tháng chiến tranh khốc liệt.Và trong từng giai đoạn ấy luôn có những câu chuyện từ thời hoa lửa được viết lên bằng máu còn sáng mãi như ngọn đuốc dẫn đường cho thế hệ hôm nay. Nghe ông tôi kể về những năm tháng bom rơi đạn lạc,tôi như được mở ra một thế giới khác-nơi những con người bình dị ấy đã sống và chiến đấu bằng tất cả lòng dũng cảm.
Ông tôi là một người lính già với mái tóc bạc như mây chiều và đôi mắt sâu hun hút,lúc nào cũng ánh lên sự từng trải. Đôi bàn tay chai sạn như vẫn còn giữ lại dấu vết của những năm tháng chiến tranh.Mỗi lần nhắc tới quãng đời chống pháp,ông lại chậm rãi nhắm mắt,giọng trầm xuống như đang soi lại từng trang ký ức.
Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên nghe ông kể về “Những Ngày Đinh Mệnh”của ông trong những năm tháng chiến tranh chống Pháp. Câu chuyện ấy mở ra cả một thời hoa lửa đầy hiểm nguy nhưng cũng thạt đẹp,với những con người dám đối mặt cái chết để bảo vệ tổ quốc.Và hôm nay,tôi muốn kể lại câu chuyện ấy-câu chuyện mà ông tôi gọi là “ký ức” không bao giờ quên.
Ông tôi kể rằng:”Trước chiến dịch Điện Biên Phủ,quân ta đã có sự chuẩn bị rất lỹ lưỡng. Tổng quân ủy đã huy động 4 đại đoàn bộ binh bao gồm:Đại Đoàn 308; Đại Đoàn 312; Đại Đoàn 316; Đại Đoàn 304 và một đại đoàn công pháo gồm:pháo 105mm; lựu pháo và cao xạ 37 mm.Cùng với sự có mặt của các chiến sĩ hậu cần đã vận chuyển hàn trăm tấn lương thực,đạn dược,thuốc men để chuẩn bị cho trận chiến quyết định. Về trận địa,các lực lượng dân công hỏa tuyến,bộ đội công binh và bộ binh đã dốc sức ngày đêm để mở đường,vượt suối bắc cầu. Bộ đội ta đã đào hàng trăm ki-lô-mét giao thông các con hào và tiến sát từng cứ điểm. Ngoài ra còn phải chuẩn bị nhiều thứ khác như pháo binh, trình báo trinh sát, thông tin liên lạc và thay đổi phương án tác chiến từ “Đánh nhanh thắng nhanh” thành “Đánh chắc tiến chắc”.Cuối cùng,thứ quan trọng nhất cần chuẩn bị đó là một tinh thần sắt thép,kiên cường,không chịu khuất phục của người lính cụ Hồ.
Ông tôi nói: “Ngày ấy,ai cũng có nỗi sợ riêng của mình.Đó là nỗi sợ của những đêm mưa bom đạn lạc, đắ rung lên dưới chân. Nỗi sợ khi đồng đội ngã xuống mà mình không kịp đưa tay đỡ lấy. Nỗi sợ phải đối diện với cái chết bất cứ lúc nào. Nhưng trên tất cả, nỗi sợ mất đi gia đình, mất đi quê hương nếu cuộc chiến thất bại. Chính nỗi sợ ấy đã rèn luyện cho những con người quả cảm một tinh thần sắt thép,dũng cảm,không sợ hiểm nguy.
Sau những ngày chuẩn bị âm thầm mà khẩn trương,cả chiến trường như nín thở chờ đợi. Những con đường hào đã nối liền các mũi tấn công, pháo bin him lặng giấu mình sau sườn núi.Trong lòng mọi người lúc này đang sục sôi khí thế,trong lòng đang dậy lên tiến trống của tự do.Và họ hiểu rằng giờ phút quyết định đang đến gần.
Đúng 8 giờ ngày 13/3/1954,những viên đạn sơn pháo của bộ đội ta bắn vào sân bay Mường Thanh khiến hai chiếc máy bay của quân Pháp bốc cháy.Đó chính là những viên đạn đầu tiên mở màn cho “Chiến Dịch Điện Biên Phủ”.Đến 17 giờ 5 phút ngày 13/3/1954 ,sau hiệu lệnh của đại tướng Võ Nguyên Giáp,40 khẩu pháo cỡ nòng 75-120 ly đồng loạt nhả đạn vào các vị trí trong cứ điểm Him Lam,bộ đội ta xuất kích bắt đầu trận đánh.quân ta đã mưu trí,dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập,bức hàng cứ điểm Bản Kéo nhằm phá vỡ của ngõ phía bắc của tập đoàn cứ điểm.Giết và bắt sống trên 2000 tên địch,phá hủy 25 máy bay,xoa sổ một trung đoàn,uy hiếp sân bay Mường Thanh.Trước sự oanh liệt của pháo binh quân ta,Tư Lệnh Pháo Binh Pi-Rốt đã dùng lựu đạn tự sát.
Từ ngày 30/3 -30/4,quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tấn công,kiểm soát sân bay Mường Thanh,hạn chế tiếp viện của địch.Đây là đợt tấn công dài ngày,gay go và quyết liệt nhất. Ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn thông hào.đồi C1 mất tới 20 ngày mới chiếm được, đồi A1 thì giằng co tới 30 ngày.
Ông tôi bảo rằng: “Khi nhận được lệnh tấn công,trong lòng ai cũng đang sục sôi tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc,quê hương và gia đình.Từ những chiến hào ngoằn ngoèo,bộ đội ta ào lên như một con sóng lớn.tiếng pháo vang lên rung chuyển trời đất.Ông vẫn nhớ rõ khoảnh khắc ấy,đất dưới chân rung lên,khói bụi mịt mù nhưng tiếng hô “xung phong” vẫn vang trời.
Từ ngày 1/5-7/5,quân ta đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía đông, tiêu diệt một số cứ điểm ở phía Tây, tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch, phát triển sâu hơn nữa trận địa tiến công và bao vây, phát huy tất cả mọi hỏa lực bắn phá khu vực trung tâm của địch, uy hiếp vùng trời còn lại của chúng, chuẩn bị chuyển sang tổng công kích.Ngày 1/5/1954,máy bay địch sử dụng một loại bom mới của Mỹ chứa hàng nghìn mũi tên rất nhỏ và sắc,nhằm gây sát thương đám đông.Lăng-Lê(LangLais) và Bi-Gia(Bieard)đã đièu chỉnh,củng cố lại tổ chức phòng ngự ở khu trung tâm.Những đơn vị,chỉ huy được tin cậy nhất còn lại của tập đoàn được tăng cường cho trung tâm đề kháng Elian.Tại đây,chúng bố trí tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1,tiểu đoàn dù xung kích 6,tiểu đoàn ngụy số 5 và nhiều lực lượng khác.Tuy nhiên,những đơn vị này bị tổn thất nhiều,đội hình chắp vá.
Về phía quân ta,17 giờ ngày 1/5/1954, tất cả các cỡ pháo của ta nhả đạn vào nhiều khu vực của tập đoàn cứ điểm,cụm pháo địch ở Hồng Cúm bị kiềm chế.Một kho đạn dự trữ của địch bị nổ tung,kho lương bị cháy.Dứt tiếng pháo,các đơn vị đồn loạt tiến đánh nhiều vị trí.Tại phía đông, Trung đoàn 98 tấn công đồi C1 lần hai,địch vẫn đặt sở chỉ huy tại đồi C2 và linh cảm C1 sắp nổ ra.Ngày 1/5,địch quyết định đưa đại đội 3 thuộc tiểu đoàn dù tiêm kích số 2 lên thay đại đội Clédic bị tiêu hao đồng thời lệnh cho đại đội 1 sẵn sàng.Nhưng những cao điểm ta chiếm được ở khu đong đã phát huy tác dụng .Các khẩu pháo đặt tại đồi D1 nhắm vào C1 khiến quân địch mất dần sức chiến đấu.Sau hơn 30 ngày,đồi C1 và C2 đã nằm gọn dưới nòng pháo không giật của quân ta.Các cứ điểm 505 và 505A cũng lần lượt bị quân ta dành lại.Cuối cùng,ngày 7/5/1954,lá cờ đỏ sao vàng được cắm trên nóc hầm đờ cát . “Chúng ta thắng rồi!”-một chiến sĩ hét lên trong tiếng nghẹn.Tất cả đều òa khóc,không phải vì sợ hãi mà vì xuc động tột cùng.Bao nhiêu gian khổ,đói rét,bom đạn trong mấy tháng trời như vỡ òa trong khoảnh khắc ấy.Có người ôm chặt lấy nhau vui mừng,có người ngồi phịch xuống đất cười mà nước mắt của họ cứ chảy mãi.Và chính ngày 7/5/1954 ,ông đã ghi vào cuốn nhật kí của mình 6 chữ:“Những Ngày Đinh Mệnh-Chiến Thắng”
Chiến tranh luôn mang theo một sự khốc liệt mà lời nói khó có thể diễn tả trọn vẹn.Những tiếng bom gào xé bầu trời,những căn nhà cháy rực trong đêm tối và cả những người lính đã ngã xuống khi tuổi đời còn quá trẻ.Tất cả tạo nên những mất mát không gì có thể bù đắp được.Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng mà còn để lại những vết thương dài lâu trong lòng mỗi người và trên mảnh đất quê hương.Nghĩ về sự khốc liệt ấy,ta càng trân trọng giá trị của hòa bình hôm nay-một cuộc sống yên bình được đánh đổi biết bao máu xương,nước mắt và sự hi sinh của cha ông.



