NHỮNG NGÀY THÁNG TƯ
Tháng 4 năm 1975 của tôi bắt đầu bằng trận đánh giải phóng tỉnh Phú Yên rồi cuốn về Sài Gòn. Với những người lính từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh thì tháng 4 là màu xanh và tháng 5 là màu đỏ. Xanh và đỏ. Như vừa mới đây thôi. 20 tháng 4 .
Tháng 4 năm 1975 của tôi bắt đầu bằng trận đánh giải phóng tỉnh Phú Yên rồi cuốn về Sài Gòn. Với những người lính từng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh thì tháng 4 là màu xanh và tháng 5 là màu đỏ. Xanh và đỏ. Như vừa mới đây thôi.
20 tháng 4 .
Nơi chúng tôi ém quân ở Bến Đình ( Củ Chi ) có một đơn vị giao bưu. Chỗ đó nhiều cây ổi lắm. Ổi xùm xòa xuống sông. Những cành ổi gác che làm mái nhà cho cái trạm giao bưu này nhiều mùa mưa nắng. Trưa nóng, tôi mắc võng sát mặt nước. Nằm nhìn lục bình trôi xuôi dòng và những con cối xay lan lan chạy trên mặt nước tôi chợt nhớ nhà, nhớ ngày bé con của mình.
Cách chừng 10 mét có một cái võng, một cô gái giao bưu cỡ tuổi tôi ngồi thõng chân nhìn bất động ra sông. Mấy ngày nay bộ đội chủ lực về đây đông nghìn nghịt kín cả triền cỏ dọc sông Sài Gòn. Bộ đội đông đến nỗi con chim sâu cũng vui. Nó nhảy nhót trên vòm lá mâm xôi ven bờ sông thủy triều lên xuống kêu như tiếng hát của lũ trẻ tí hon trong cổ tích.
Cô gái giao bưu nhớ gì mà cô im lặng đến hàng giờ. Gương mặt thật đẹp. Cô chỉ nhìn vào đám lục bình trôi ngoài sông Sài Gòn. Mặt sông lốm đốm những đám lục bình trôi. Những chùm hoa tím chĩa lên trời. Sóng sông lom tom như cá quẫy. Trưa nắng, có cả tiếng bìm bịp kêu. Sông Sài Gòn lên hơi như khói.
Không biết người con gái ấy nhớ ai? không biết có điều chi uẩn khúc? Mặt trái soan, mái tóc kẹp cặp ba lá, ngực căng bà bà đen. Chỉ có con mắt là buồn tê tái. Tê tái ngay cả lúc trưa nắng và đầy con trai bên bờ sông im tiếng súng. Chưa bao giờ tôi thấy cô nói, chỉ nhìn đoàn quân ồ ạt trẻ trung như kẻ mộng du rồi laị nhìn ra sông. Cứ thế cô như một hòn vọng phu búi tóc.
Trời ở đây thật kì lạ. Ngày nắng và nhiều gió nhưng chập tối là đổ mưa. Mưa ngắn mà to. Những cơn mưa không thèm doạ dẫm sấm chớp cũng chẳng cần dây dưa lâu la. Ngạc nhiên nhiều nhất khi thấy phụ nữ không thèm trú mưa. Kệ cho ướt, áo bà ba bó chặt thân người cong ỏng. Ướt rồi lại khô, thật đơn giản. Gái Củ Chi cô nào cô nấy chắc như củ khoai sọ. Nước da nâu thật là duyên, tóc gọn gàng bằng cặp ba lá. Hỏi các cô có cần gì không thì các cô nói chỉ thích lựu đạn và dép đúc Tàu. Cô nào cũng khoái dép đúc của chủ lực, vì dép của du kích thường bằng vỏ ô tô đi đau chân lắm.
Đơn vị nằm dọc sông Sài gòn. Khoét hầm vào những bờ cỏ ven sông. Những vạt rừng thưa thớt đông nghịt người, ngồn ngộn vũ khí. Nhiều trung đội chui vào trong cỏ, dẹp ra từng cái ổ nằm xuống mà sinh hoạt họp hành. Quân đông như kiến, xen lẫn chủ lực là những đơn vị biệt động. Tưởng biệt động thành phải hầm hố li kì lắm, hoá ra họ trẻ đẹp rắn rỏi mà trông cứ như học sinh sinh viên. Họ hăm hở và nhiệt tình đến khó tin. Trong số ấy nhiều người từ bỏ cuộc sống vật chất sung sướng nơi phồn hoa đô thị mà dấn thân vào kháng chiến.
27 tháng 4…
Lệnh: Tất cả cán bộ chiến sĩ đều phải khâu một miếng vải trắng trên ngực ghi vào đó phiên hiệu đơn vị. Mỗi chú một mảnh vải đỏ đeo vào tay áo như băng đội trưởng trong đấu bóng đá. Có một yêu cầu khá thú vị đặt ra: trận này tất cả phải mặc quần áo mới, phải quán triệt thái độ đối xử với đồng bào trong thành phố giải phóng.
Chiều ấy trong cái nóng nực Củ Chi chúng tôi từng người đăng kí danh hiệu “ Dũng sĩ thành đô trên đất thành đồng”. Trong phương án tác chiến mà trung đoàn phổ biến thì hướng của đơn vị tôi sẽ nhằm tới tận bộ chỉ huy đầu não của Nguỵ quyền Sài Gòn. Cán bộ từ trung đội trở lên phải chuẩn bị cờ đỏ sao vàng để sẵn sàng cắm lên các cơ quan đầu não hay các công sở nguỵ quyền. Cả sáng hôm ấy chộn rộn, hối hả, tôi có cảm giác cứ ngứa râm ran cả người. Trưa, tôi quyết định xuống thăm lại đại đội 7. Đại đội cũ của tôi nay quá nửa là lính mới. Số lính cũ sứt mẻ sau hơn một tháng trời chiến đấu nhiều quá. Thằng Luật B trưởng lên C trưởng thay Kế lên làm tiểu đoàn trưởng. Thằng Chấn lên chính trị viên phó, chiến sĩ cũ hầu hết trở thành cán bộ cả. Trung đội của tôi nằm quanh mấy bụi tre cụt. Chúng nó đang cắt tóc cho nhau. Thấy tôi đến chúng nó reo lên, nhờ anh Luân giải quyết mấy cái đầu của bọn Cao Bằng đi. Thì ra khi vào Chơn Thành có đợt tân binh Cao Bằng bổ xung về trung đoàn. Tiểu đội trinh sát cũng có hai chú đó thôi. Cả hai đều là người dân tộc, rất ngoan, dễ thương, nhưng chậm lắm. Tôi rất lo khi vào trận mấy chú này sẽ lớ ngớ hỏng việc hoặc lại phơi ngực hứng đạn thì khổ. Linh cảm ấy có phần đúng. Ba đứa người Cao Bằng được tôi cắt tóc cho hôm ấy chẳng có đứa nào trở về trong trận đánh hôm sau.
Chiều xuống, tôi và Sỹ kêu anh Thuỷ chụp ảnh. Tuy không dám nói ra nhưng trong bụng đứa nào cũng nghĩ thầm, nói dại nếu có chết ngày mai thì còn cái ảnh mà thờ.
Từ đầu chiến dịch tới giờ đây là những ngày nhàn nhã nhất. Không phải đi lấy gạo, vác đạn, ngoại trừ nhóm chúng tôi hai ngày bò Tân Phú Trung rồi trở về vẽ sơ đồ với cán bộ tiểu đoàn. Sa bàn cũng không đắp, chỉ theo bản vẽ tay, rồi bản đồ địa hình của trinh sát nằm vùng đưa ra mà họp mà hạ quyết tâm. Rõ là thế của kẻ mạnh.
Nắng cả ngày rồi chiều thì mưa. Cơn mưa chiều nào ở đây cũng to và thật nhanh. Một tuần nay chúng tôi đã quen như thế. Ba lô cứ gói buộc sẵn sàng chỉ để tấm ni lông lên trên cùng. Súng cứ lau đi lau lại, dép cứ nắn đi nắn lại từng quai, vuốt ve cái dây ba lô mòn bóng nhem nhẻm mồ hôi. Tựa lưng vào ba lô mà trò chuyện. Có anh đọc đi đọc lại lá thư nhà mà giao liên đưa đuổi theo ở Chơn Thành. Ngắm nhìn những khuôn mặt đồng đội trước lúc vào trận sao mà thấy ai cũng trẻ, khuôn mặt nào cũng bâng khuâng, cũng hiền… đến lạ. Đã bao lần trước lúc vào tiếp cận nhưng tôi đâu có để ý như bây giờ. Có lẽ bởi những trận đánh ở Tây Nguyên luôn bất thình lình hoặc do rừng rú, đêm tối hay những lúc mùa mưa thâm xám trời đất chả có thời gian đâu mà để ý. Chỉ biết gập mình dò dẫm, bò tườn trong đêm. Còn bây giờ, giữa vùng bình địa gần sát đô thành này mọi khuôn mặt vào trận nó mới sáng trưng ra dưới hàng ngàn đồng đội. Suốt cả mấy ngày nay pháo ta và địch bắn đối nhau ầm ầm. Cái thứ tiếng xèo xèo bay ngược chiều nhau. Pháo từ Đồng Dù bắn ra, từ thành Quan năm Hóc Môn, từ Ngã ba Tân Qui đồng loạt nã về. Trái phá nổ trên ngọn đồi có cửa hầm địa đạo, nổ dưới sông, nổ phía bên kia sông. Cột nước tóe trắng hắt ngược những cụm lục bình lên trời, hoa lục bình tím bay lả tả hòa vào mặt sông.
28/4/75.
Buổi chiều.
Mặt trời thật vàng, trôi thật chậm. Tiểu đoàn ắng lặng. Chúng tôi ngồi ôm cái ba lô đã mấy tiếng đồng hồ. Lính cũ thì gà gật, lính mới thì phấp phỏng cứ nhìn các đàn anh như dò hỏi: thế nào là thế nào rồi hở anh ?
4 giờ, thấy đơn vị biệt động thành hành quân qua. Trẻ quá, nhiều con gái quá. Lại xinh nữa, lại lúng liếng mắt nhìn các anh chủ lực đang há mồm nhìn theo những bắp chân trắng cứa đỏ bởi dây dép cao su .
Mặt trời khuất hẳn, lệnh hành quân.
Cả ngàn người bám vào nhau. Chưa có cuộc chiếm lĩnh nào chúng tôi bám xít nhau hành quân rộn rực trong lòng đến vậy. Hơi thở người đằng sau phả vào gáy người đi trước. Tôi vượt lên đầu tiểu đoàn để nhận một nữ biệt động dẫn đường. Chúng tôi trao đổi ngắn gọn về hướng hành quân và chỉ kịp nhận ra cô còn trẻ nhưng chắc lẳn với cái tên Mỹ Hạnh.
Phía đông nam là một quầng sáng lung linh.
Phía tây cột lửa đỏ bốc cao ngùn ngụt. Kho xăng Đồng Dù bị pháo kích lúc chập chiều đang ù ù cháy. Nóng, ngột ngạt những mồ hôi và thì thầm của lính. Pháo bất thần nổ. Đội hình phía sau tôi ùn lại, một chiến sĩ trinh sát quay lại rồi chạy lên. D7 hi sinh 3 bị thương 4. Trung đoàn lệnh hành quân khẩn trương. Một con mương sâu rộng chừng 15 mét. bộ đội ào xuống, phì phò ì ọp khúc khích cười. Rồi có tiếng, chết đuối rồi ! chết thằng Dìn rồi. Mỹ Hạnh quay ngoắt lại trong mập mờ đêm, nhoáng cái lôi chàng Dìn vào bờ. Chúng nó hỏi mày không biết bơi à? em không biết. Hinh hích hinh hích, lính ta cười. Mỹ Hạnh càu nhàu, đồng đội chết ỉm đến cổ còn húm vào cười. Lính ta chả ai nói gì .
Vượt qua đường 8 đoạn Phước Vĩnh An. Cái đồn địch bắn đạn 12,8 đỏ lừ lừ cành cành cành. Chó sủa râm ran. Mặc, chúng tôi cứ nhắm Cầu Bông mà lội tới. Mùi bùn, mùi lúa con gái ngai ngái trong đêm. Lính hỏa lực ì ọp ngã lên ngã xuống. Bờ ruộng thì nhỏ bùn lại trơn , tôi bảo Mỹ Hạnh, tôi chiếu bản đồ Hạnh dẫn bộ đội lội trên lúa. Hạnh cự, nát lúa uổng lắm. Tôi gắt, không thể để chậm giờ vào chiếm lĩnh. Truyền lại lội ruộng theo trinh sát. Thế là hàng mấy trăm người bì bõm dưới ruộng, rồi leo lên ruộng cạn rồi lại xuống nước. Cứ thế chúng tôi vòng qua cánh đồng rìa làng Tân Thông Hội, xuống Tân Phú Trung.
Một giờ sáng, trăng bất thần nhú ra. Cả đội hình đến cánh đồng trồng dưa của dân Tân Phú Trung. Truyền xuống, hạ ba lô im lặng. Trinh sát bàn nhau, xin mấy quả đi. Lập tức bị Mỹ Hạnh phản ứng. Đi làm cách mạng mà ăn trộm của dân à?
Tôi đưa cho Hạnh gói lương khô. Mỹ Hạnh mừng húm hít hà rồi ăn ngay, vừa ăn vừa nói lương khô chủ lực ngon quá trời. Tôi bảo mỗi trận đánh tụi anh chỉ được một gói thôi. Hạnh ăn rồi anh phải ăn dưa thôi. Cô biệt động kêu trời, rằng bộ đội lừa nhân dân. Chúng tôi cười khoái trá và bổ dưa ăn.
Đội hình lên đủ. Để bộ đội tập hợp lực lượng ngoài đồng, chúng tôi bò vào trận địa với tham mưu trưởng trung đoàn lần nữa.Trăng lúc này bật sáng mới chết chứ. Cánh đồng gần ấp Chợ đầy rau mùi và hành. Nhắc nhau cẩn thận đừng dẵm lên luống mùi và hành sực mùi lên bọn lính gác nó phát hiện. Lúc bò qua một vườn cam và chanh, sờ thấy có quả nhưng không dám ngắt định bụng quay ra vặt mấy quả. Đêm đầu tiên chiếm lĩnh một trận địa ven đô, bồi hồi lạ lắm. Mùi của cánh đồng lúa đang kì trổ đòng, mùi bùn ruộng lẫn trong mùi phân của trâu bò. Mùi mồ hôi của lính và lại là lần đầu tiên đi cùng một cô gái, rất gần rất nhẹ nhàng là hương tóc con gái cứ phảng phất đâu đây. Đêm chiếm lĩnh, lội đồng rồi chui lên vườn tược ngửi thấy, cảm nhận thấy những mùi vị có tên chung, nhưng cũng có mùi mang cái tên riêng chỉ người cảm nhận nó đặt tên được. Chúng tôi nhìn về Tân Sơn Nhất đèn đỏ nhấp nháy trên cao, chịu chả biết là gì. Những cái máy bay bay đêm lên xuống, đại bác 130 li của ta vẫn cầm canh bắn vào phía ấy. Ra sát đường thấy có bức tường to và lóa lóa trắng, mò lại gần thấy thằng tây đen nhe răng trắng ởn, tôi bảo Ngô Thịnh lùi thôi đéo biết là gì, lát nữa bảo DK phang vào đấy mấy phát. Thằng Minh thì thầm, qué phải hỏa điểm gì đâu, thuốc đánh răng đấy (biển quảng cáo kem Hinos). Đưa các đại đội vào chiếm lĩnh xong xuôi, không gian nén lại, thời gian trôi thật chậm. Tôi quay ra sở chỉ huy ở ngoài đồng trên một con mương ken dầy những cây bằng lăng. Nhìn lên đường số một từ hướng Tây Ninh về Sài Gòn thỉnh thoáng có vệt đèn xe hon da. Trong đêm tiếng động cơ xèn xẹt thành vệt dài rồi chìm vào đêm. Trận địa im lặng. Nghe thấy cả tiếng ếch nhái. Mắt đăm đăm dõi về hướng mấy cái lô cốt ngoài Ấp Chợ, rồi lại lom lom ngó cái đồn đầu Cầu Bông. Quay lại về hướng bắc, Đồng Dù vẫn sáng, vẫn hồng hồng cái thứ ánh sáng của trận đốt kho xăng lúc chiều qua. Cả một vùng phía bắc Sài Gòn nín thở trước giờ phút bùng nổ trận công phá cuối cùng. Mấy thằng lính thông tin dải dây vào các đại đội trở về ngồi trên bờ ruộng thay nhau dúi đầu xuống mương hút thuốc. Trung đoàn trưởng lừ lừ đi tới. Tiểu đoàn trưởng đứng lên. Tôi biết cái giờ nổ súng bắt đầu.
…. Vậy là đêm 28/4/75 trở thành cái đêm cuối cùng của đời tôi hành quân chiếm lĩnh, cũng là cái đêm lần đầu tiên tôi được bì bõm trên đồng ruộng vùng ven. Từ hôm đó cho tới nay đã về già không bao giờ mình bước xuống cánh đồng thơm ngái hương bùn và bâng lâng phóng đãng như tình người nam bộ vậy. Có ai đó nhớ về trận chiến có thể quên những mùi hương của không gian trận địa, chứ tôi thì tôi nhớ, nhớ mãi màu sắc hương vị trước giờ nổ súng. Trận đánh cuối cùng, đêm chiếm lĩnh cuối cùng có mùi hương rất quyến rũ của cánh đồng Nam bộ
29 tháng 4
Trời đã bàng bạc đằng đông , đúng lúc ấy phía Đồng Dù tấn công thì đồng loạt DKZ, cối 82 , cối 120 ở đồng Tân Phú phát hoả. Ngay loạt DK đầu tiên, 6 khẩu cùng bắn đồn cảnh sát cầu Bông sập hoàn toàn. Bộ binh D9 và đặc công 198 vận động dưới tầm pháo xông lên đánh cầu. Cho tới chín giờ sáng thì cầu Bông dã về tay quân giải phóng. Phía ấp Chợ các lô cốt kiên cố bắn trả dữ dội. Quân ta không tiến lên được. Bộ binh nằm trên đồng trống bị thương vong hơn hai mươi người. Tình hình trở nên căng thẳng. Tiểu đoàn lệnh trinh sát và thông tin xuất kích. Ngô Thịnh dẫn thằng Phương thằng Tiến us lao ra hướng c6. Từ phía chợ thằng Thuận ( người Đông Lao, Hoài Đức ) bị đạn thẳng xiên vào cổ đang bò ra cánh đồng. Tôi châm điếu thuốc Rubi cài vào mồm cho nó rồi bò ra trận địa hướng c7. Đạn từ ba lô cốt táng dữ dội vào trận địa 12,7 của C16 . Mấy thằng C16 dạt ra. Thằng Khuất Duy Hoan C7 chồm lên, ôm 12, 7 li vừa bắn vừa chửi. Được củng cố tinh thần, thằng Hoà người Cao Bang thị xã Phú Thọ bật dậy bắn liền 2 phát B41 rồi ôm khẩu trung liên từ tay một liệt sĩ bắn xối xả. Đúng lúc ấy nó trúng đạn gục xuống bên khẩu trung liên còn nóng bỏng. Đại dội 7 xung phong ra phía chợ, chui vào ngóc ngách nhà dân ném lựu đạn ra đường. Trận đánh giằng dai tới 11 giờ trưa thì có tiếng xe tăng chạy ầm ầm từ phía Củ Chi về Sài Gòn. Bộ binh quay ra bắn xe tăng, 2 chiếc bốc cháy đâm sầm vào trường tiểu học Tân Phú. Đúng lúc ấy xe tăng quân ta đuổi tới nơi. Bộ binh ta thấy xe tăng cờ đỏ sướng quá rối rít chỉ lô cốt cho họ bắn. Ba lô cốt nổ tung. Ngót trăm thằng từ trận địa bên kia đường bấy giờ mới kéo ra hàng. Lúc ấy là 12 giờ trưa ngày 29/4. Lúc này d9 và bộ đội e 198 đã chiếm cầu Bông. Cả đoàn xe địch không còn đường nào chạy, tàn quân địch chừng ba chục xe tăng thiết giáp không dám lên cầu Bông chạy bổ nhào xuống đồng lúa Tân Phú Trung ngay phía sở chỉ huy tiểu đoàn tôi. Vài cái trực thăng chúi xuống đồng lúa để cứu bọn sĩ quan bị pháo 37 ta trên đường bắn rớt ngay xuống giữa đồng lúa. Trên đường số 1, pháo ta hạ nòng bắn thẳng vào đoàn xe tăng. Cả đồng lúa biến thành biển lửa. Cứ điểm án ngữ cuối cùng đã mở toang. Xe tăng, pháo binh, bộ binh của các đơn vị ào ào xông vào thành phố. Trời oi nồng vì nắng, vì bom, vì lửa. Tiểu đoàn phải để lại hơn ba chục tử sĩ và năm chục thương binh. Các mẹ các chị trong làng đổ ra lo khâm liệm và chôn cất những người hi sinh ngay phía trong chợ Tân Phú Trung. Cho tới đầu những năm 90 họ đã được quy tập về An Nhơn Tây. Trong số những người hi sinh có một người trúng đạn vào phút cuối cùng của trận đánh là trợ lí tham mưu tên Măng người Thái bình. Măng chết lúc đang giương khẩu chống tăng của địch để bắn xe tăng địch. Cũng ở trận địa này, trong Mậu Thân 1968 sư đoàn 9 đã hi sinh hàng chục người mà hồi đó người dân Củ Chi đã lập miếu thờ ven đường. Trong miếu thờ đó, ba chiến sĩ C6 của chúng tôi hôm nay cũng nằm lại.
Chiều hôm ấy trung đoàn dừng lại ở Hóc Môn. Lính ta nấu cơm ăn ngay trên hè phố. Đêm 29/4 chúng tôi nhằm hướng Sài Gòn hành quân. Phía trước đã có Sư đoàn 10 thọc sâu đang triển khai chiến đấu. Lính ta hành quân rạo rực nghĩ đến ngày về với mẹ cha sắp đến nơi rồi.
0 giờ 30 tháng 4….
Chúng tôi tạt vào làng Tân Thới Nhì ngủ lại. Năm giờ sáng đang nấu cơm chưa kịp ăn thì có lệnh: Tất cả mọi đơn vị, bằng mọi giá, bằng mọi phương tiện, xốc thẳng vào Dinh Độc lập. Thế là lao ra đường, chặn xe của dân, huy động cả xe lam, cả máy cầy, xe đò…. mạnh đại đội nào đại đội nấy tìm đường tiến. Vào giờ phút ấy, khắp các ngả đường làng mạc quanh sài gòn đâu cũng thấy quân giải phóng. Gương mặt người lính đi đánh trận mà dãn ra tươi như đi hội. Quân phục đã được thay mới, cờ giải phóng, phù hiệu giải phóng, băng tay xanh đỏ trùng trùng điệp điệp. Con đường vào thành phố đầy dẫy lô cốt ụ súng bằng bao cát, thùng phuy cửa kẽm gai ngăn ra từng đoạn. Tiểu đội trinh sát 5 thằng leo lên một cái xe lam. Người lái xe mặt xanh như tàu lá. Ông ta nói không biết đường vô Dinh. Tôi giở bản đồ và nói to. Tôi biết đường. Xe chạy. Chúng tôi cứ nhè đường tắt mà chạy. Xe nhỏ luồn lách tốt nên vượt xa đội hình tiểu đoàn. Tới Bảy Hiền, trong khói đạn đơn vị bạn đang thu thập tử sĩ, chúng tôi rẽ ra Lăng Cha cả. Ở đây một trận đánh dữ dội đã diễn ra. Trung đoàn xe tăng của ta cháy mất 3 chiếc ở đây. Chúng tôi len lỏi trong xe cháy xe hỏng vượt cầu Trương Minh Giảng tiến tới dường Phan Đình Phùng thì bị chặn lại bằng hàng loạt đạn đại liên từ trên một tháp nước từ phố Trần Quí Cáp bắn xuống. Cả tiểu đội lăn ào xuống đường dùng Ak bắn tới tấp về cái tháp nước có khẩu đại liên (chỗ đó bây giờ là khách sạn 14 Võ Văn Tần ). Mười một giờ trưa tiểu đoàn dải quân dọc bộ dân vận chiêu hồi. Tiểu đoàn 9 tiến đánh loạt lô cốt phía tây Dinh. Bộ đội D8 hạ cối 82 ngay trên đường phố. Một chiếc xe dép kính vỡ toe toét chạy lên . Nhìn ra thì là anh Thuỷ. Cậu liên lạc từ trên xe hét lên rối rít : “ Đừng bắn nữa, đấm đít D9 bây giờ” Bỗng cả khung trời vỡ oà tiếng reo hò. Hóa ra là Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Hàng ngàn người nhẩy lên, ôm nhau trong nước mắt. Đường phố Sài Gòn dồn nén bao lâu bỗng nhiên ùa ra toàn những cờ đỏ sao vàng. Bỗng chốc thành phố là một bức tranh xanh đỏ. Những hàng phượng vĩ trổ hoa đầu mùa đỏ thắm, cờ đỏ thắm, dưới nền trời quân phục xanh. Một biển người mừng đến ngơ ngác. Bỗng chốc con người lơ mơ hụt hẫng giữa không gian mới lạ mới lạ ngay cả với người đã sống ở đây từ bao năm. Vào giờ phút ấy, lính nguỵ trong thành phố còn đông hơn cả dân ngoài đường. Họ trút bỏ hết quần áo lính mặc quần cụt ngồi la liệt vỉa hè, vườn hoa, bến cảng. Những cặp mắt thất thần nhìn quân giải phóng chiến thắng. Chẳng ai để ý đến họ, đội quân đã hết sức chiến đấu, không còn phiên hiệu tơi tả khắp đô thành. Đường phố ngổn ngang quân trang quân dụng mang nhãn hiệu Mỹ, xe pháo của Mỹ đứng bất động, chỉ có quân giải phóng là hân hoan, mắt nói miệng nói…..
Thời gian như ngừng trôi và không gian trở nên chật hẹp. Tôi có cảm giác mình đang sống trong mơ, một giấc mơ huy hoàng và kì vĩ. Bao ngày chiến đấu trên rừng núi cao nguyên, trong tâm trí chưa bao giờ dám nghĩ rằng có ngày mình nhìn thấy Sài Gòn. Vậy mà hôm nay tôi đã đứng giữa thành phố với tư thế của một người chiến thắng
Buổi chiều, dân Sài Gòn kéo ra đường, vây kín khu vực Dinh Độc Lập. Họ đi xem quân giải phóng, họ đi tìm chồng, tìm con ở cả hai phía. Cái sự tìm người thân ấy còn kéo dài cho tới vài chục năm sau, nhưng nó bắt đầu từ chiều hôm nay. Tôi cũng không hiểu nổi làm sao dân Sài Gòn chuẩn bị cờ đỏ sao vàng nhanh và nhiều đến thế. Cờ ở trên ban công, trên cánh cửa, nơi công sở và cả trên tay trai gái trên đường. Đêm đầu tiên giải phóng Sài Gòn điện vẫn lung linh sáng và người ta vẫn đi dạo phía vườn hoa.
Mười một giờ đêm 30/4. Tôi đứng trên sân thượng nhà cố vấn Mỹ góc đường Phan Đình Phùng nhìn ra phía cảng. Tiếng còi tàu tu tu. Bình yên quá. Trời đầy sao. Gió từ cửa sông thổi vào mát rượi. Thành phố tinh khôi trong màn đêm lung linh như chưa hề có chiến tranh. Trong tôi kí ức về ngày hôm qua còn nóng hổi, nhưng bàn chân thì vẫn râm ran ngứa vì những vết nứt nẻ hành quân. Chúng tôi về thành phố để lại sau lưng bao nấm mồ đồng đội đang lạnh lẽo nơi rừng sâu, nơi đồng vắng. Để lại hàng ngàn ngày đói cơm thiếu thuốc trên cao nguyên. Bỏ lại những cơn sốt rừng tê tái gặm nhấm đời trẻ trai. Để lại những cánh rừng nương rẫy mà mình đã chai tay vun trồng nên khoai nên sắn. Phút giây huy hoàng này có ai nhớ không những bản làng xa xăm chốn Sa Thầy Pô Cô, có những già làng đóng khố nhịn cơm đưa đường năm trước. Ai còn nhớ tới lời hò hẹn quay về nơi đã cưu mang mình, đã vực dậy trong lòng chiến sĩ niềm tin?
Một thời gian sau 30 tháng 4, tôi lại gặp người con gái giao bưu Bến Đình ở Bưu điện huyện Củ Chi khi đi gửi thư về nhà. Cô ngồi trong quầy gửi thư và điện tín. Tưởng cô nhận ra mình nhưng cô nhìn tôi rồi trượt cái nhìn qua đầu ra ngoài sân đầy nắng mùa hè. Vẫn buồn, vẫn im lặng, vẫn đẹp. Chiến tranh mười ngàn ngày vừa đi qua đất nước tôi và cuộc đời chúng tôi. Nó cũng có hai màu; xanh và đỏ.
Hà Nội 2019 - NTL



