Những ngày tuổi trẻ ở C7 Phong Thổ – Câu chuyện của ba cựu Thanh niên xung phong người dân tộc Giấy
Trong quá trình sưu tầm những câu chuyện về lực lượng Thanh niên xung phong trên địa bàn tỉnh Lai Châu, tôi có dịp gặp ông Vàng Văn Dín, sinh năm 1950, dân tộc Giấy, hiện sinh sống tại xã Bản Giang, tỉnh Lai Châu. Điều đặc biệt là trong buổi trò chuyện hôm ấy, ông không chỉ kể về những năm tháng tuổi trẻ của mình mà còn nhắc nhiều đến hai người đồng đội thân thiết là ông Lèng Văn Kin, sinh năm 1952, và ông Giàng A Tý, sinh năm 1942. Cả ba đều từng là những đội viên Thanh niên xung phong của Đội
Ông Dín kể rằng, những năm đầu thập niên 1970, khi tuổi đời còn rất trẻ, nhiều thanh niên ở vùng Bản Giang đã tình nguyện lên đường tham gia lực lượng Thanh niên xung phong. Người đi trước, người đi sau nhưng rồi đều gặp nhau trong màu áo xanh của Đội C7. Ông Lèng Văn Kin tham gia từ năm 1970 đến năm 1972, ông Giàng A Tý tham gia từ năm 1970 đến năm 1971, còn ông Vàng Văn Dín tiếp nối từ năm 1972 đến năm 1973.
Theo lời kể của ông Dín, nhiệm vụ của Đội C7 chủ yếu là tham gia mở đường, sửa chữa các tuyến giao thông, vận chuyển vật tư và phục vụ các công trình trên địa bàn huyện Phong Thổ. Khi ấy, điều kiện đi lại vô cùng khó khăn. Những con đường chỉ là lối mòn men theo sườn núi, nhiều đoạn dốc cao, vực sâu. Muốn đưa được vật liệu đến nơi thi công, các đội viên phải gùi từng bao xi măng, từng dụng cụ lao động trên vai, có khi đi bộ hàng chục kilômét giữa núi rừng.
Ông Dín nhớ nhất hình ảnh người đồng đội Giàng A Tý. Dù lớn tuổi hơn nhiều anh em trong đơn vị nhưng ông Tý luôn là người đi đầu trong công việc. Những việc nặng nhọc, nguy hiểm, ông thường xung phong làm trước để động viên lớp thanh niên trẻ. Còn ông Lèng Văn Kin tuy ít nói nhưng rất chăm chỉ, cần mẫn. Mỗi khi đơn vị có việc khó, ông luôn âm thầm hoàn thành phần việc của mình mà không một lời than vãn.
Điều khiến ông Dín xúc động nhất là tình đoàn kết giữa những người cùng bản. Xa gia đình, sống giữa núi rừng, mọi người coi nhau như anh em ruột thịt. Ban ngày cùng lao động, tối đến lại quây quần bên bếp lửa, kể cho nhau nghe chuyện quê hương, động viên nhau vượt qua nỗi nhớ nhà. Những bữa cơm chỉ có cơm độn với rau rừng nhưng tiếng cười vẫn luôn rộn rã. Chính sự gắn bó ấy đã giúp họ vượt qua những năm tháng gian khó.
Khi kể về quãng thời gian ấy, ông Dín nhiều lần nhấn mạnh rằng, điều đáng quý nhất không phải là những gì mình đã làm được, mà là tinh thần cống hiến của cả một thế hệ thanh niên. Ai cũng mang trong mình suy nghĩ giản dị: đất nước cần thì mình lên đường, quê hương cần thì mình góp sức. Không ai tính toán thiệt hơn hay mong được đền đáp.
Nhìn lại hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, ba người đồng đội năm nào nay đều đã ở tuổi xế chiều. Dù mỗi người có một hoàn cảnh riêng, nhưng mỗi khi gặp nhau, câu chuyện về những ngày ở Đội C7 Phong Thổ vẫn luôn được nhắc lại với niềm tự hào và sự xúc động.
Kết thúc buổi trò chuyện, ông Vàng Văn Dín gửi gắm một điều mà ông luôn mong thế hệ trẻ ghi nhớ: "Chúng tôi ngày ấy chỉ có đôi bàn tay và lòng nhiệt huyết để cống hiến. Các cháu hôm nay có điều kiện học tập, có khoa học, có tri thức thì càng phải cố gắng nhiều hơn. Hãy yêu quê hương, đoàn kết, chăm chỉ lao động và sống có trách nhiệm. Đó là cách thiết thực nhất để tiếp nối truyền thống của các thế hệ đi trước."
Lời kể của ông Vàng Văn Dín không chỉ giúp tôi hiểu hơn về những năm tháng gian khổ của lực lượng Thanh niên xung phong ở Phong Thổ, mà còn làm hiện lên hình ảnh đẹp của ba người thanh niên dân tộc Giấy đã cùng chung lý tưởng, cùng góp sức xây dựng quê hương trong những năm tháng còn nhiều khó khăn. Những câu chuyện ấy tuy bình dị nhưng chính là những mảnh ghép quý giá của lịch sử địa phương, góp phần giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí cống hiến.


