Những người cách mạng trong lịch sử
Trong hoạt động văn hóa và báo chí công khai những năm 1937-1938, các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp càng ngày càng nhận thấy một yêu cầu bức thiết: cần phải chống nạn mù chữ, thất học cho nhân dân. Trong hồi ký Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông Trần Huy Liệu đã viết rất rõ nguyên do thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ: “Để tiến tới một tổ chức chống nạn thất học, chúng tôi, một số đồng chí đã họp với một số nhân sĩ để bàn về việc này. Buổi họp ấy tại nhà anh Phan Thanh, tron
Nhờ sự ủng hộ, đồng tình của cụ Tố, ngày 25-5-1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ ra đời tại Hội quán thể thao An Nam (C.S.A) trên phố Khúc Hạo, Hà Nội. Sau khi thành lập, Ban trị sự phân công các ủy viên phụ trách ban chuyên môn: ông Phan Thanh,Trưởng Ban cổ động. Ông Võ Nguyên Giáp, Trưởng Ban dạy học; ông Hoàng Xuân Hãn, Trưởng Ban tu thư; ông Quản Xuân Nam, Trưởng Ban khánh tiết chuyên lo kinh phí, trường lớp cho Hội hoạt động. Mục đích của Hội Truyền bá Quốc ngữ là: “Dạy cho người Việt Nam biết đọc, biết viết và giúp cho họ thâu thái những kiến văn thường thức cần cho cuộc sống mới”. Ngày 9-9-1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ Bắc kỳ khai giảng khóa đầu tiên ở Hà Nội tại Hội quán Trí Tri và trường tư thục Thăng Long với gần 800 học viên. Chỉ sau nửa năm mở trường lớp, tháng 3-1939, Hội mở rộng thêm các trường lớp ở Hàng Cót và bãi Phúc Xá. Đến tháng 9-1939, Hội mở thêm 5 khu mới với 1.200 học viên, 60 giáo viên ở các trường tư thục sau: Tri Tôn (trên phố Công sứ Mi-ri-ben, nay là phố Trần Nhân Tông); Thành Nhân trên phố Huế; Đông Dương và Việt Nam ở phố Lò Đúc; Đông Tây ở phố Hàng Cót. Những năm 1940-1944, mặc dù phải chịu cảnh một cổ hai tròng, thanh niên Hà Nội vẫn nhiệt tâm tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ. Hội vẫn hoạt động khá mạnh với hệ thống trường lớp mở ra ngoại thành và Hà Đông như ở các làng Bạch Mai, Bưởi, Đông Ngạc, Canh, Diễn, thị xã Hà Đông… Số học viên học chữ Quốc ngữ đã lên tới 23.000 người. Có thể nói, đây là sự tiếp nối học chữ Quốc ngữ của phong trào Đông kinh Nghĩa thục ở mức độ sâu rộng hơn, mang tính phổ biến hơn trong những năm 30-40 của thế kỷ XX. Uy tín, đức độ, yêu nước, mong cho người dân biết đọc, biết viết để giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc trong thời đại mới, Cụ đã có đóng góp to lớn vào phong trào truyền bá Quốc ngữ của Hà Nội cũng như cả Bắc kỳ.Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Cụ Tố ra giúp nước, giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội (nay là Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) trong Chính phủ Hồ Chí Minh. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946, Cụ đã trúng cử đại biểu Quốc hội (đại biểu tỉnh Nam Định). Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội, Cụ được bầu làm Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (tức Chủ tịch Quốc hội) cho đến ngày 8/11/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn thay thế.Thực hiện sách lược mềm dẻo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để đối phó với quân Tưởng luôn luôn phá hoại chính quyền dân chủ nhân dân, ngày 3/11/1946, Chính phủ phân công các vị làm Bộ trưởng, trong đó Cụ giữ chức vụ Bộ trưởng không Bộ. Đầu năm 1947, Cụ có một chuyến đi làm việc tại Hà Đông để quyên góp gạo cứu đói cho Hà Nội. Trong báo cáo gửi Hồ Chủ tịch đề ngày 6-1-1947, Cụ Nguyễn Văn Tố viết: “Từ thứ Năm mồng 2.1.1947 đến Chủ nhật 5.1.1947, tôi đi phủ Hoài Đức, cách tỉnh lỵ 9 cây số, rồi từ đấy đi các làng xung quanh... Tôi đi đến tận nơi để dân gian được yên lòng... Nếu không đi hết (vì toàn phải đi bộ) tôi sẽ đi phủ Hoài Đức một lần nữa cho hết 58 liên xã (kể cả thôn thì hết 100)”(3).Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Cụ lên chiến khu Việt Bắc. Ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, cụ bị địch bắt và hy sinh ngay sau đó. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết rất cụ thể về sự hy sinh oanh liệt của cụ: "Bọn lính dù bắt được một cụ già trông chững chạc, nói tiếng Pháp, yêu cầu chúng chấm dứt chiến tranh xâm lược. Lúc biết không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng đã bắn chết khi ông già tìm cách chạy thoát. Đó là cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, một nhân sĩ yêu nước tâm huyết và uy tín. Cụ Tố hy sinh là một tổn thất lớn cho ta..."(4). Biết tin này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời điếu Cụ Tố với niềm trân trọng và tiếc thương sâu sắc:"Nhớ cụ xưaVăn chương thuần túy, học vấn cao sâuThái độ hiền từ, tính tình thanh khiếtMở mang văn hóa, cụ dốc một lòngPhú quý công danh, cụ nào có thiếtCụ dù hy sinh, tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệtChính phủ khôn xiế́t buồn rầu, đồng bào khôn xiết nỗi lòng thương tiếc..."(5)Nhớ đến Liệt sỹ, Ứng hòe Nguyễn Văn Tố là nhớ đến một học giả xuất sắc của khoa học nước ta đầu thế kỷ XX, từng làm việc trong Viện Viễn Đông Bác Cổ, nhưng giản dị với bộ áo the khăn xếp với biệt hiệu thân thiết mà người dân đặt cho Ông - Ông Phán men(6), tận tâm vì việc nước. Anh linh của Liệt sỹ Nguyễn Văn Tố sống mãi ngàn thu với non sông, đất nước.



