Những người hùng không tên
Một mảnh chuyện về những người hùng thầm lặng thời chiến,những đôi bàn tay thô ráp giã gạo nơi hậu phương
Chiều Chủ nhật, tôi ngồi với bà Dương Thị Vận trên chiếc chõng tre ở hiên nhà, quê Bắc Ninh. Bà sinh năm 1948, năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, tóc bạc trắng nhưng giọng nói vẫn rõ ràng, nhanh nhẹn như thời còn làm cán bộ. Tôi hỏi bà về những năm tháng đi làm, bà cười, bảo: “Bà có đánh trận đâu, bà chỉ lo cái ăn cho người đánh trận thôi.”
Năm 1967, bà mới mười chín tuổi, được phân công làm công tác hậu cần ở hợp tác xã Trung Chính tỉnh Bắc Ninh. Việc của bà là cùng mấy chị em thu gom thóc gạo, muối vừng, rau khô, rồi chuẩn bị chuyển ra để đưa vào chiến trường. Hồi ấy cả làng ăn độn khoai, độn sắn, nhưng khẩu hiệu treo ngoài đình thì ai cũng thuộc: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người.”
Bà kể, mỗi mùa gặt xong, bà đi từng nhà vận động. Nhà nào cũng nghèo, nhưng chẳng nhà nào từ chối. Có bà cụ gần tám mươi tuổi, con trai đang ở chiến trường, run run bưng ra một lon gạo nếp để dành từ Tết, bảo: “Cháu cầm lấy, gửi cho các anh ấy, biết đâu gặp con tôi.” Bà Vận bảo bà đứng lặng ở cửa nhà cụ rất lâu, vì cầm lon gạo ấy mà thấy nặng hơn cả một bao tải.
Công việc vất vả nhất là những đêm giã gạo. Cả tổ thay phiên nhau, tiếng chày vang đến tận gà gáy, tay ai cũng phồng rộp. Gạo giã xong thì rang chín, đóng vào những chiếc túi vải khâu tay để quân ta mang theo ăn dọc đường. Bà nói thời ấy thiếu vải, nhiều chị em tháo cả mảnh áo cũ của mình ra khâu túi. Bà vẫn còn nhớ cái cảm giác kim đâm vào ngón tay mà không dám kêu, sợ làm chậm mất việc.
Rồi bà kể đến chi tiết mà bà bảo bà nhớ nhất. Mỗi bao gạo gửi đi, bà cho kèm một mảnh giấy nhỏ, ghi tên người gửi và vài chữ động viên, như “Chúc các anh vững tay súng” hay “Gạo làng Kinh Bắc gửi các anh”. Bà bảo nhiều mảnh giấy là chữ nhờ viết hộ, vì không ít người trong làng chưa biết chữ. Bà nghĩ, người lính nhận được bao gạo mà biết có người ở hậu phương đang nhớ tới mình thì sẽ thấy ấm lòng hơn.
Một hôm, rất lâu sau, đơn vị bà nhận được một bức thư. Người viết là một anh lính cùng quê, kể rằng anh nhận được bao gạo kèm mảnh giấy ấy giữa một chặng đường đói. Anh viết, chiều hôm đó cả tiểu đội ngồi chia nhau từng nắm gạo rang, rồi truyền tay nhau đọc tờ giấy, như thể đọc thư nhà. Cuối thư anh viết: “Xin cảm ơn các chị ở hậu phương. Nhờ có gạo của các chị mà chúng tôi có sức đi tiếp.”
Bà cất bức thư ấy rất kỹ. Bà bảo sau này đi làm cán bộ nhiều năm, qua bao nhiêu công việc khác, nhưng lúc nào nhớ lại thời trẻ, bà cũng nhớ đến những bao gạo mang tên và lá thư của người lính chưa từng gặp mặt.
Tôi ngồi nghe bà kể mà thấy câu chuyện không có tiếng súng nào, nhưng người ta vẫn thấy được cả một thời. Hóa ra chiến thắng không chỉ nằm ở những người cầm súng ngoài mặt trận, mà còn nằm ở những đêm giã gạo, những đôi tay phồng rộp, những lon gạo nếp dành dụm từ Tết. Tôi chợt hiểu vì sao bà luôn nhắc con cháu ăn cơm phải ăn cho sạch hạt, không bỏ thừa.
Lúc ra về, bà đưa tôi xem tấm ảnh cũ chụp cùng các chị em trong tổ hậu cần. Tôi nhìn những gương mặt trẻ trung, rám nắng, và nghĩ mình may mắn vì còn kịp ngồi nghe bà kể. Là người trẻ, tôi muốn ghi lại câu chuyện này đầy đủ và đúng như bà kể, để những người đã lặng lẽ góp sức ở hậu phương như bà không bị lãng quên.



