Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Những người Việt ở Hoàng Sa năm 1937-1938

Ông Kỳ là người Việt, nhưng học ở Pháp, vào làng Tây, là một kỹ sư giỏi thực sự, do ở Pháp lâu nên có phong cách giản dị dân chủ, không quan dạng như mấy anh công chức người Việt khác. Vả lại chúng tôi cũng quen phong cách làm việc đến nơi đến chốn và thực sự tuân thủ các quy trình kỹ thuật chuyên môn...

Phú Thọ02/03/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Dũng Tiến - sưu tầm (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Dũng Tiến)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Kỳ là người Việt, nhưng học ở Pháp, vào làng Tây, là một kỹ sư giỏi thực sự, do ở Pháp lâu nên có phong cách giản dị dân chủ, không quan dạng như mấy anh công chức người Việt khác. Vả lại chúng tôi cũng quen phong cách làm việc đến nơi đến chốn và thực sự tuân thủ các quy trình kỹ thuật chuyên môn. Sau khi phân tích, ghi chép đầy đủ vào bulletin d’analyse (phiếu trích yếu phân chất), kỹ sư Nguyễn Kỳ xác nhận, ký tên; cả mẫu quặng cùng hồ sơ hằng ngày đó được phong lại, gắn xi, cặp dấu, chờ gửi về Hà Nội. Mỗi tuần một chuyến tàu của nhà binh Pháp chở các nhu yếu phẩm, kể cả nước ngọt, thư từ ra đảo và nhận chuyển các thứ từ đảo về đất liền. Điều chúng tôi còn chút phân vân lại ở một điểm khác: Những kết quả khảo sát này chỉ hoàn toàn phục vụ cho sở mỏ Đông Dương hay ông Kỳ còn kết hợp cung cấp cho một công ty tư nhân nào đó đang có ý định bỏ vốn vào việc khai thác nguồn phân chim Hoàng Sa này chăng?

Theo thể lệ của chính quyền Đông Dương hồi bấy giờ một công ty tư nhân nào muốn khai thác khoáng sản trước hết phải được phủ Toàn quyền cấp cho giấy phép đi tìm mỏ (autorisation de rechercheminiere ), có giá trị trong ba năm.

Khi đã chọn được vùng đất cụ thể nào đó mới làm bản đăng ký xác định vị trí (toucher périmètre), trước khi chính thức khai thác còn phải có giấy phép, làm thủ tục xin lập khu nhượng địa (concession Périmètre) và bắt đầu nạp thuế theo diện tích rộng hẹp – tính bằng héc-ta của khu nhượng địa đó. Giữa các công ty tư bản, cùng người Pháp, cũng thường xảy ra những vụ tranh chấp với nhau khá rắc rối. Anh đăng ký sau, muốn cướp miếng béo bở của anh cắm trước, dùng mưu khoanh vùng đăng ký của mình rộng hơn, bao trùm lấy cả khoảnh đất của anh kia để hớt tay trên. Có anh chỉ xin cắm vùng đất không có quặng mỏ gì, nhưng bịt mất đường vận xuất của anh có mỏ, buộc anh này phải thuê đất của anh ta để làm đường ra vào và xây dựng các công trình cần thiết khác. Nhóm tư bản nào đó muốn bỏ vốn ra khai thác mỏ phân chim ở Paracel này mà có được một người nhận làm tay trong cho ở sở mỏ, khỏi lo gì sự bất trắc vì tranh chấp.Cả ông Nguyễn Kỳ và chúng tôi đều chung một tâm lý làm công việc khảo sát này xong càng sớm càng tốt để trở về đất liền. Khi chúng tôi ra đảo là đầu mùa hè. Ngày nóng, đêm thì gió. Quần áo không mặc nổi. Anh em bên quản lý đảo cũng như chúng tôi đều cởi trần, đóng khố, đầu húi trọc để cát khỏi mắc lại ở chân tóc. Tắm rửa đều phải dùng nước biển. Buổi tối, bảy tám giờ vẫn còn vầng sáng ở bầu trời phía tây. Buổi sáng, mới hơn bốn giờ đã hừng đỏ ở chân trời phía Đông. Đặc biệt, khi mặt trời nhô lên, nhìn to hơn hẳn khi ta ngắm ở đất liền.

Trong khi khảo sát ở đảo chính, chúng tôi thấy có một bia đá, chiều cao 1,20m, rộng độ sáu mươi phân tây, trên nóc bia có chạm hai con rồng và một mặt nguyệt. Các cạnh đều có hoa văn. Lòng bia có khắc mấy chữ Hán “HOÀNG SA HẢI AN NAM QUỐC”, phía dưới ghi “Gia Long tam niên, ngũ nguyệt, sơ nhị nhật”. Gần đó có một miếu thờ xây dựng bằng loại gạch vồ, nóc cuốn vòm, lòng miếu rộng chừng tám tấc vuông, phía trong có một bát hương bằng đá, có vại nhỏ đựng nước mưa (để làm nước cúng). Bát hương, vại nước, những nén hương cháy chưa hết, và cả những mảnh gốm vỡ quanh đó đều là loại ta thường gặp ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng.

Mấy anh bên cơ lính cho biết, miếu thờ này do dân chài ở Quảng Nam xây cách đây đã khoảng một trăm năm. Mỗi lần ra khơi làm nghề, không bao giờ người ta quên việc mang theo lễ vật ra miếu cầu xin cho được bình an, đánh bắt được nhiều cá, hoặc khi sóng to thì họ neo thuyền vào đảo trú ẩn. Một vài anh còn có cụ kỵ tổ tiên xưa từng được sung vào đội Hoàng Sa, hằng năm từ tháng “trọng xuân” đến trước mùa lũ bão, quan chức phong kiến cử ra đảo để thu nhặt những của cải và các vật quý do các tàu buôn bị đắm các nơi trôi giạt vào đảo, đem về nộp cho Nhà nước những thứ đã quy định; các thứ khác là thuộc về mình. Tâm lý người được cử đi vừa tin có mệnh vua giao, vừa thương các cô hồn đắm thuyền dạt sóng, nên ra tới nơi thế nào cũng có lễ cúng các cô hồn, lại gieo ít hạt giống để mong thành cây cho người đi biển những năm sau biết mà tránh nạn hoặc dễ nhận ra nơi cần tìm đến neo thuyền tránh bão gió.Trong thời gian có đơn vị quản lý và chúng tôi ra làm việc ở hòn Paracel, những người dân chài không được phép lên hòn đảo chính này, nhưng họ vẫn ghé lên một số đảo bé hơn ở trong cụm, cách chúng tôi không xa. Những ngày nắng, đánh bắt được nhiều cá, họ đem cá lên phơi. Ngày biển động họ vào đảo chờ biển lặng trở lại để đánh bắt tiếp hoặc đợi thời tiết thuận lợi, dong buồm trở về đất liền.

Khoảng cuối tháng 6-1938, công việc khảo sát của chúng tôi sắp xong, thì đột nhiên các tàu hải quân Nhật kéo đến phong tỏa ở phía ngoài. Các tàu tiếp tế theo định kỳ không ra được. Gay go nhất lúc này là nước ngọt. Trên đảo có một số giếng do dân chài qua lại đã moi lên từ hàng trăm năm trước lấy nước dùng. Bộ phận quản lý đảo nghiêm cấm mọi người, không cho một ai được phép lấy nước giếng để tắm rửa, chỉ để dự trữ dùng cho việc ăn uống. Nguồn nước ngọt chở từ đất liền ra không còn nữa thì nhu cầu về nước cho việc ăn và uống gần bảy chục con người chỉ còn trông vào mấy cái giếng bé nhỏ đó, cho nên phải trân trọng tiết kiệm đến từng giọt.

Nhóm chúng tôi còn thêm một nỗi khổ nữa là việc làm không còn. Ngồi rỗi thấy bứt rứt lạ. Nghịch cá, đuổi bắt cua mãi cũng chán. Hết kể chuyện chinh Đông, chinh Tây, Tây du, lại đến chuyện tiếu lâm, hoặc nghe các truyền thuyết về biển, về đảo, các đặc tính của cá, tôm, sinh vật biển. Có lúc ôn lại những kỷ niệm các lần đi khảo sát mỏ ở những vùng rừng núi: Hễ mệt, nóng thì ào xuống suối tắm, nghe đủ thứ tiếng chim rừng; sau đợt ở rừng về là những bát phở đủ gia vị, rau thơm, những hương vị khó quên ở những nhà hàng đã quen.

Cho đến một hôm, máy bay Nhật từ tàu chiến của họ bay vào đảo quan sát nhiều vòng. Hôm sau, họ cho ba thuyền máy dắt một số thuyền cao su đưa khoảng vài chục lính Nhật kéo nhau lên đảo gặp những người ở đây. Không rõ những sĩ quan và hải quân Phù tang này có nhận ra được những công sự ngầm hay không (trong đó, chúng tôi biết ít ra cũng có các loại súng như mút-xcơ-tông (mousqueton), một số khẩu trung liên “đầu bạc”... tất cả đều được giấu kỹ). Lính Nhật nhờ chúng tôi xúm tay kéo hộ những chiếc thuyền cao su lên bờ, biếu chúng tôi thuốc hút. Họ đi khắp đảo trong khoảng hơn một giờ, dừng lại xem những tấm lưới, đàn cá đang phơi, những dãy thùng mắm. Mấy sĩ quan và lính chừng như có biết chữ Hán, đến ngắm và đọc tấm bia “Hoàng Sa hải An Nam Quốc”. Lão Môn (tây lai) trong vai chủ thầu nghề cá mắm của Nam triều, đem rượu, bia ra mời. Nhưng bọn sĩ quan Nhật không hề dùng đến một thứ gì. Sau đó bọn họ kéo nhau ra tàu, còn tặng chúng tôi mấy gói Poupon – loại thuốc lá của quân đội Nhật.

Ý chừng thấy những người có mặt trên vùng đảo Paracels này không là sự uy hiếp hoặc có thể gây khó khăn bất ngờ gì cho hải quân Nhật ở phía này, nên mấy hôm sau các tàu chiến Nhật kéo đi nơi khác-chắc đương có yêu cầu lớn hơn. Đợt phong tỏa chấm dứt.

Chiếc tàu thủy mang tên “Khải Định” của hải quân Pháp chở đồ tiếp tế ra cho đơn vị ở đảo và đón chúng tôi về Hải Phòng. Chỉ hơn bốn tháng trời mà cả bốn chúng tôi đều đổi khác. Anh nào da dẻ cũng đen nhẻm, nhưng khỏe ra, đặc biệt là không anh nào ghẻ lở. Người ta bảo gió biển không phải có lợi cho tất cả mọi người như nhau cả đâu. Phải tùy theo lứa tuổi và sức khỏe. Gió ban sớm lợi cho lứa tuổi nào. Gió buổi chiều lợi cho lứa tuổi nào. Hồi ấy, chúng tôi còn đương tuổi thanh niên nên có lẽ cả gió sớm hay gió chiều đều có lợi. Trong chúng tôi có anh Hướng vốn mắc bệnh suyễn, nhờ chuyến khảo sát 4 tháng ở Hoàng Sa đó mà bệnh khỏi hẳn. Kể cũng đáng ngạc nhiên.

Hồi làm giám đốc ở mỏ Cổ Định, những con ốc hoa ngũ sắc mang từ Hoàng Sa về chuyến ấy, tôi đã cho bạn bè rất nhiều, cũng vẫn còn một số. Tôi thường đặt ở bàn làm việc. Trưởng đoàn Đảng Hồng Ân và các thành viên trong đoàn chuyên gia Trung Quốc đến làm việc ở Crô-mít Cổ Định trong mấy năm liền cũng thấy những chiếc vỏ ốc đặc sản này.

Những văn kiện, thư tịch về Hoàng Sa, Trường Sa từng còn liên quan đến nước Pháp, đến chính quyền thời Pháp cai trị Đông Dương, đến bà con khác trong vùng. Đó là chưa nói đến nhiều nhà hàng hải, nhiều ngư dân không chỉ Việt Nam mà còn các nước trong vùng giáp cận cũng không ít người từng đến Hoàng Sa trú chân khi gặp gió lớn và thấy được bia chủ quyền của ta như bọn chúng tôi đã từng gặp. Hồi đó, chúng tôi cứ trao đổi bàn cãi mãi: Tại sao ngày Gia Long cho dựng bia lại là “ngũ nguyệt”, “sơ nhị nhật” nhỉ? Thì ra ngày mồng Hai tháng 5 âm lịch ấy từng được coi là ngày Quốc khánh thời Gia Long chính thức lên ngôi Hoàng đế năm Nhâm Tuất, lịch Tây là năm 1802.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn