NHỮNG TRẬN ĐÁNH LỚN CỦA ĐẠI TÁ ANH HÙNG LLVTND ĐỖ VĂN NINH.
Đỗ Văn Ninh
Tôi sinh ra khi những ngày đêm khói lửa của bom, đạn đã lùi xa, nhưng qua câu chuyện kể của Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Đỗ Văn Ninh, 85 tuổi ở khu phố Đọ Xá, phường Ninh Xá (thành phố Bắc Ninh), người trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu phá nổ Tổng kho Long Bình và sân bay Biên Hòa năm 1972, cũng phần nào cảm nhận được tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Năm 1966, đế quốc Mỹ lấy Long Bình làm căn cứ hậu cần, gồm 4 khu: Khu A chứa hàng quân tiếp vụ; khu B chứa thiết bị quân sự và thông tin liên lạc; khu C đặt Sở Chỉ huy; khu D gồm kho 50 và 53 chứa đạn. Sau khi nắm chắc tình hình địch, Trung đoàn 113, do ông Nguyễn Thanh Tùng (Trung đoàn trưởng) và Đỗ Văn Ninh (Tham mưu phó) trực tiếp chỉ đạo xây dựng phương án tác chiến theo 4 bước: Bước 1 cắt rào; bước 2 mở khóa; bước 3 đặt bom nổ chậm; bước 4 rời nhanh khỏi trận địa.
Lực lượng tham gia gồm 40 cán bộ, chiến sỹ, chia làm 2 bộ phận: 34 đồng chí đánh trong và 6 đồng chí phục vụ bên ngoài. Ông Đỗ Văn Ninh chia sẻ: “Với những trận tiến công của các đơn vị bộ binh, 40 người không có gì đáng kể. Nhưng với binh chủng đặc công, thì đây là trận tiến công mang ý nghĩa lịch sử, lần đầu tiên dùng một lực lượng đông đánh vào kho tàng của địch. Xác định tính chất quan trọng của trận đánh, chúng tôi khẩn trương huấn luyện chiến sỹ cách cưa khóa, mở cửa kho, đặt thuốc nổ bảo đảm linh hoạt, chính xác, kịp thời”.
Đúng 18 giờ ngày 12-8-1972, các tổ trinh sát chia làm 3 mũi tiến công làm nhiệm vụ cắt các hàng rào thép gai chằng chịt, áp sát mục tiêu, tổ chức phá khóa, cài đặt thuốc nổ trong các kho chứa phương tiện, vũ khí của địch. 3 giờ sáng ngày 13-8, bộc phá đồng loạt phát nổ rung chuyển Tổng kho Long Bình, làm cho quân địch nháo nhác, hoảng loạn và bất lực, chỉ biết nhìn kho dự trữ chiến lược chìm trong biển lửa. Trong trận chiến này, quân ta phá hủy 130 nhà kho chứa hơn 5.000 tấn bom đạn, 200 tấn chất nổ, diệt và làm bị thương 300 quân địch.
Sau trận đánh lừng lẫy vào Tổng kho Long Bình, ông Đỗ Văn Ninh cùng Trung đoàn 113 tiếp tục tham gia đánh Sân bay Biên Hòa. Địch coi nơi đây là “pháo đài” quân sự nội bất xuất, ngoại bất nhập. Qua trinh sát, phân tích lực lượng giữa ta và địch, Trung đoàn quyết định tiến công sân bay Biên Hòa bằng pháo kích. Để đảm bảo chiến đấu có hiệu suất cao, đánh chắc thắng, Trung đoàn chỉ đạo Tiểu đoàn 174 dùng phương pháp “đánh lủi” (chui luồn vào chỗ rậm, chỗ khuất) sử dụng 500 viên đạn (loại ĐKB mỗi viên nặng hơn 50kg). Trong đó, ông Đỗ Văn Ninh được giao nhiệm vụ phụ trách, chỉ đạo vận chuyển 200 viên đạn.
Lúc bấy giờ vào mùa mưa, nước các triền sông dâng cao và chảy xiết, đường lầy lội khó đi. Các tuyến phòng thủ dày đặc của địch, lùng sục, soi đèn pha có độ sáng cực mạnh xuống mặt sông để lần tìm, phát hiện dấu vết. Muốn vận chuyển một viên đạn ĐKB nặng 54 kg cần phải hai người. 500 viên phải dùng 1.000 người. Trong khi đó, thời gian không cho phép kéo dài, càng để lâu càng dễ lộ, không tạo được yếu tố bất ngờ. Để giải quyết vấn đề khó khăn này, ông Ninh mưu trí, sử dụng các phuy xăng làm phương tiện tải đạn. Phương pháp của ông được đồng đội hưởng ứng và khẩn trương bắt tay thực hành.
Sau khi thử nghiệm thành công, 500 viên đạn được đưa vào các phuy xăng vừa giảm lực lượng (từ 1.000 người xuống còn 100 người), vừa bảo đảm an toàn, hiệu quả. Lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Biên Hòa cũng xung phong tham gia chuyển đạn cho Trung đoàn theo con đường bí mật. Chỉ thời gian ngắn, 500 viên đạn ĐKB, H12 được đưa đến nằm sẵn trên “bệ” phóng, chỉ còn đợi lệnh là tấn công phá hủy các mục tiêu.
Đêm 9-9 rạng sáng 10-9-1972, các chiến sĩ của Tiểu đoàn 174 đặc công đã trút bão đạn vào sân bay Biên Hòa. Đạn ĐKB, H12 đã lao tới các mục tiêu dự định phá hủy. Điện sân bay tắt, những cột lửa bốc cao. Tiếng nổ rền vang, khói bụi mịt mù che lấp cả bầu trời, làm cho lực lượng địch hoang mang, lo sợ rút chạy. Bằng tinh thần dũng cảm và mưu trí, sáng tạo, các chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 174 đã phá hủy hơn 200 máy bay các loại; làm nổ tung 4 kho chứa hơn 1.000 quả bom; diệt 571 tên địch... Suốt 7 ngày đêm sau đó, sân bay Biên Hòa gần như phải đóng cửa và nhân dân thị xã Biên Hòa được sống trong yên bình.
Chiến tranh đã trở thành ký ức, nhưng câu chuyện của Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Đỗ Văn Ninh về những trận chiến oai hùng ấy sẽ mãi là mốc son chói lọi, là biểu tượng sáng ngời về tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường, anh dũng trung kiên của dân tộc ta, bồi đắp truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, sống có lý tưởng, không ngừng vươn lên trong học tập, lao động, sản xuất, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./



