Những trang di bút “biết nói”
Năm mười tuổi, Hoàng Văn Binh chia tay người chú ruột lên đường nhập ngũ. Với một đứa trẻ, chiến trường là nơi xa xôi chưa thể hình dung. Em chưa hiểu hết ý nghĩa của cuộc chia tay, càng không biết lời chú nói hôm ấy sẽ theo mình suốt cuộc đời. Chú dặn cháu ở nhà ráng học cho giỏi; chú phải đi xa, cũng không biết ngày trở lại. Đó là ký ức ông Binh kể lại, một lời thương yêu giản dị của người thanh niên trước khi rời gia đình.
Quê nhà anh Thiết ở Phú Tịch, xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Theo lời kể của gia đình, anh mồ côi mẹ từ nhỏ. Người cha một mình tần tảo nuôi năm anh chị em trong cảnh bần nông thiếu thốn. Năm 1964, cả nhà dắt díu nhau lên vùng kinh tế mới ở xóm Móng, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy. Cuộc chuyển cư mang theo hy vọng gây dựng đời sống trên vùng đất mới, nhưng những nhọc nhằn vẫn đeo đẳng một gia đình đông con.Học xong lớp 7, Hoàng Anh Thiết viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Trong phần lý lịch được chép lại ở bản dịch CDEC, ngày sinh của anh là 4/2/1948, ngày vào quân đội là 15/8/1965. Những con số ấy cho thấy anh lên đường khi mới mười bảy tuổi. Ở tuổi nhiều người còn đang được cha mẹ chở che, anh đã mang theo nỗi lo quê nhà vào cuộc đời người lính.
Mấy năm sau, sợi dây nối anh với gia đình là những lá thư hiếm hoi từ chiến trường. Ông Binh nhớ rằng chú không kể nguy hiểm nơi đầu tuyến. Những dòng gửi về chủ yếu báo mình vẫn khỏe, vẫn làm tốt nhiệm vụ. Qua lời kể ấy, có thể hiểu người lính đã dành phần yên tâm cho người ở nhà, còn gian khổ thì giữ lại phía mình. Gia đình chờ thư để biết anh còn bình an; anh viết thư để cha và các anh chị em bớt lo lắng.
Rồi người cháu năm nào lớn lên, trải qua bao đổi thay và nay đã bạc tóc. Người chú vẫn ở lại trong ký ức ở dáng vẻ của buổi lên đường. Gia đình gìn giữ giấy tờ ghi nhận sự hy sinh, thành tích của anh. Trong những ảnh tư liệu được cung cấp, Bằng Tổ quốc ghi công được lồng khung trang trọng; giấy chứng nhận Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba đã ố màu, sờn rách. Những mép giấy ấy cho thấy dấu vết thời gian trên các kỷ vật gia đình gìn giữ.Hồ sơ CDEC F034604221623 gồm 36 trang PDF, lưu bản chụp các sổ ghi chép, biểu mẫu cùng tài liệu khai thác và bản dịch tiếng Anh. Giữa những trang đánh máy phục vụ mục đích quân sự trước đây, tên Hoàng Anh Thiết hiện lên. Trong phần ghi về người viết nhật ký, anh được xác định là trợ lý chính trị của K18. Bản chụp trang đầu cuốn sổ có dòng “Nhật ký 1968”, tên anh và thông tin về nhiệm vụ.
Đáng chú ý hơn cả là lời dặn liên quan đến người cha. Bản dịch tiếng Anh trong hồ sơ ghi nội dung có thể dịch sang tiếng Việt: “Trong trường hợp khẩn cấp, báo tin cho bố tôi”, rồi nêu địa chỉ người cha ở xóm Móng, xã Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Đây là lời dặn được ghi trong sổ, không phải một lá thư gửi về nhà. Tuy nhiên, nó chứa đựng một thông tin gia đình rất cụ thể, trùng với nơi cư trú được thân nhân nhắc đến.
Với người làm công tác đối chiếu tư liệu, địa chỉ ấy giúp nối người viết sổ với gia đình. Với người thân, đó còn là dấu vết của tình phụ tử. Người lính đi xa đã ghi lại nơi cần báo tin nếu mình gặp điều bất trắc. Giữa chiến trường, anh vẫn nhớ đến người cha ở quê, người đã nuôi các con lớn lên qua những năm nghèo khó. Sau bao năm lưu lạc trong hồ sơ chiến tranh, chính địa chỉ ấy lại góp phần dẫn ký ức của anh về nhà.Ở phần viết mang tiêu đề “Những ngày đã qua”, anh kể về cuộc sống tuổi nhỏ giữa đói nghèo, thiếu thốn. Qua bản chụp và bản dịch kèm theo, có thể nhận ra những hồi ức về thức ăn chống đói, sự mất mát người mẹ, cảnh người cha làm lụng vất vả để nuôi con. Các chi tiết ấy cần được đọc trong hoàn cảnh tư liệu đã mờ và qua một lớp dịch thuật, nhưng vẫn đủ để thấy nỗi thương cha sâu nặng trong tâm hồn người viết.
Một cuốn nhật ký chiến trường thường được tìm đọc vì những trận đánh, địa danh, ngày tháng. Cuốn sổ của Hoàng Anh Thiết còn giúp hậu thế hiểu người lính từ cuộc sống trước khi nhập ngũ. Anh đã từng là một đứa trẻ thiếu ăn, thiếu sự chăm sóc của mẹ, chứng kiến cha vật lộn với sinh kế. Những trải nghiệm ấy đi cùng anh vào quân đội, trở thành một phần trong suy nghĩ và cách anh nhìn cuộc đời.
Sổ ghi lại các mốc trưởng thành, khen thưởng và quá trình phấn đấu của anh. Bản dịch nêu ngày được kết nạp Đảng là 11/4/1967, ngày trở thành Đảng viên chính thức là 31/3/1968. Bên cạnh những ghi chép công việc là suy nghĩ về trách nhiệm tiếp tục rèn luyện. Nhìn từ những trang ấy, có thể thấy một thanh niên còn rất trẻ đã tự đặt yêu cầu nghiêm túc đối với mình, cố gắng làm tròn nhiệm vụ trong hoàn cảnh chiến tranh.
Đặc biệt, trong phần viết về người đồng đội tên Độ, bản dịch lưu lại nỗi đau của anh khi trở về mà không còn được gặp bạn. Anh nhớ lần hai người đi lấy lương thực trong mưa, quần áo ướt sũng sau khi ngã xuống hào; nhớ những lời trò chuyện thân tình và việc chia sẻ thuốc lá giữa lúc làm nhiệm vụ. Những chi tiết nhỏ ấy khiến đồng đội hiện lên gần gũi, có tiếng nói và có những kỷ niệm riêng.
Người viết đã từng đau đớn vì một người bạn không trở lại. Đến hôm nay, gia đình lại đọc những trang ấy trong nỗi nhớ chính anh. Sự nối tiếp của mất mát khiến cuốn sổ trở thành một chứng tích sâu sắc về cái giá của chiến tranh. Mỗi người hy sinh đều để lại khoảng trống trong đời sống của những người còn lại; có khoảng trống kéo dài qua nhiều thế hệ, được gìn giữ bằng một lời kể, một tấm bằng hay một nét chữ.



