Những trang sổ tay đẫm màu hoa lửa
Tôi là giáo viên trường Tiểu học Duyên Hải, xã Diên Hà, tỉnh Hưng Yên. Mảnh đất quê tôi vốn yên bình, bốn mùa xanh mướt, người dân chân chất. Nhưng đằng sau vẻ bình dị ấy là cả một thời oanh liệt với những hy sinh không thể nào kể hết.
Chiều nay, tôi cùng đồng chí Mạnh – cán bộ Đoàn Thanh niên xã – đến thăm bác Toàn, một thương binh trong xã. Đó là nhiệm vụ được nhà trường giao: ghi lại câu chuyện của những người có công để giáo dục học sinh về truyền thống uống nước nhớ nguồn.
Ngôi nhà nhỏ của bác nằm lọt giữa rặng nhãn già. Khi chúng tôi bước vào sân, bác Toàn đã ngồi sẵn trước hiên. Mái tóc trắng xóa, gương mặt hiền từ nhưng in hằn dấu vết thời gian. Điều khiến tôi lặng đi vài giây là thân hình bác – cánh tay trái cụt đến khuỷu và chân trái bị mất từ đùi trở xuống, khiến bác phải ngồi trên chiếc ghế gỗ, bên cạnh là một cái nạng tay gài sát vào vách tường.
Tôi cúi đầu chào bác:
– Chúng cháu là giáo viên và cán bộ Đoàn của xã, hôm nay xin phép được đến nghe bác kể chuyện ạ.
Bác Toàn cười hiền:
– Các cháu đến là quý rồi. Bác chẳng còn gì ngoài mấy chuyện cũ… nhưng còn nghe được thì ngồi xuống đây.
Chúng tôi ngồi đối diện bác. Bác rót chén nước vối vàng óng, hương thơm dìu dịu lan khắp gian nhà. Bác xa xăm nhìn qua vườn nhãn, như kéo những mảnh ký ức từ quá khứ trở về.
– Hồi ấy bác mới mười chín… – bác chậm rãi kể – Bằng tuổi mấy thanh niên xã mình bây giờ thôi. Nghe tin miền Nam đánh ác liệt, bác ghi tên nhập ngũ ngay. Lúc đi, mẹ bác chỉ khóc, còn bác thì chỉ nghĩ… mình phải đi để đất nước yên bình.
Bác kể về những ngày hành quân xuyên rừng, về đơn vị trẻ trung, đầy lạc quan dù bom đạn luôn chực chờ. Đôi mắt bác sáng lên khi nhắc về đồng đội:
– Đơn vị bác ai cũng mang trong túi mảnh giấy ghi địa chỉ quê, phòng khi…
Bác dừng lại. Bàn tay phải của bác bất giác đặt lên phần cánh tay trái đã cụt. Một khoảng lặng kéo dài rồi bác nói tiếp:
– Năm 1971, trong một trận pháo kích, bác và đồng chí Quân – người bạn thân cùng làng – đang áp sát điểm chốt. Một quả pháo nổ rất gần. Bác bị mảnh đạn cắt trúng tay và chân bên trái. Máu chảy nhiều lắm…
Bác hít sâu, giọng nghẹn lại:
– Quân cõng bác chạy trong mưa bom để đưa ra khỏi trận địa. Đến lúc quay lại cứu tiếp mấy đồng đội khác… thì trúng đạn. Quân hy sinh tại chỗ.
Tôi cảm giác sống mũi cay xè.
– Bác có sợ không… lúc biết mình mất cả tay lẫn chân? – tôi hỏi khẽ.
Bác Toàn mỉm cười, cái cười hiền nhưng đau đáu:
– Mất thì thương lắm chứ cháu. Mấy tháng đầu nằm viện, bác chỉ nghĩ cuộc đời mình coi như hết… Nhưng rồi bác nghĩ: mình vẫn sống. Còn Quân và bao người khác thì không. Thế là bác thấy mình vẫn may hơn nhiều.
Đồng chí Mạnh hỏi:
– Bác còn nhớ khoảnh khắc chiến thắng không ạ?
Bác gật đầu, ánh mắt sáng lên như kéo lại một ngày rực rỡ:
– Nhớ chứ! Cả đơn vị ôm nhau khóc. Vui vì hòa bình, nhưng cũng đau vì biết bao anh em không sống đến ngày ấy. Bác chỉ mong hòa bình đến sớm hơn chút… để nhiều người được trở về hơn.
Bác nhìn quanh căn nhà mộc mạc của mình rồi nói:
– Bác mất một tay, một chân, bác chẳng làm việc nặng được. Nhưng bác dặn con cháu sống tử tế, sống có ích. Đất nước mình có được ngày nay đâu phải dễ… Các cháu phải giữ lấy hòa bình mà sống cho đàng hoàng.
Bác đứng dậy khó khăn, dựa vào nạng tay, rồi vào phòng lấy ra chiếc hộp gỗ cũ. Bên trong là tấm ảnh đen trắng của bác và đồng đội, lá thư Quân viết dở cho mẹ, và tấm Huân chương Chiến sĩ Giải phóng.
– Đây là những gì còn lại sau chiến tranh. Bức thư của Quân bác giữ để nhớ lời nó dặn: “Nếu tao không về, mày sống thay tao cho đàng hoàng.” Bác chưa bao giờ quên câu ấy.
Tôi hỏi nhỏ:
– Bác còn điều gì day dứt không ạ?
Bác nhìn về phía nghĩa trang liệt sĩ của xã:
– Chỉ tiếc… bác không còn đủ sức để thường xuyên ra đó thăm Quân và thắp nén hương cho anh em thôi.
Khi rời nhà bác, tôi vẫn thấy dáng bác ngồi bên hiên, một tay phải giơ lên vẫy, chân trái đã không còn nhưng tinh thần thì vững vàng như cột mốc của làng Diên Hà.
Trang sổ tay của tôi hôm nay không chỉ chứa những lời kể, mà còn là một phần của lịch sử, của lòng biết ơn sâu nặng đối với thế hệ “thời hoa lửa”.
Và tôi sẽ kể lại cho những học trò của mình… để các em hiểu rằng hòa bình được đánh đổi bằng điều thiêng liêng nhất – niềm tin, tuổi trẻ và máu xương của cha anh.
Qua buổi gặp gỡ và được nghe bác Toàn kể chuyện, tôi thấm thía hơn giá trị của hòa bình hôm nay. Trước đây, mỗi lần dạy học sinh về truyền thống dân tộc, tôi thường chỉ dựa vào sách vở, hình ảnh và những câu chuyện kể lại từ xa xưa. Nhưng khi được trực tiếp lắng nghe lời tâm sự của một người từng bước qua bom đạn, tôi mới cảm nhận sâu sắc rằng: mỗi tấc đất quê hương đều được đánh đổi bằng biết bao hy sinh to lớn.
Là một giáo viên, tôi càng thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc giáo dục học sinh biết trân trọng quá khứ, biết ơn những người đã ngã xuống và những thương binh còn đang mang trong mình dấu tích của chiến tranh. Tôi muốn gieo vào tâm hồn các em niềm tự hào dân tộc và ý thức sống có lý tưởng, góp phần xây dựng quê hương Diên Hà ngày càng giàu đẹp.
Cuộc gặp gỡ ấy không chỉ giúp tôi hiểu hơn về một thời “hoa lửa” đầy máu và nước mắt, mà còn nhắc nhở bản thân phải sống tử tế, cống hiến nhiều hơn cho xã hội. Bởi như bác Toàn đã nói: “Hòa bình hôm nay là máu của ngày hôm qua. Đừng bao giờ quên điều đó.”



