NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG: CHÍ SĨ ĐOÀN HỮU TRƯNG – NGỌN CỜ ĐẦU KHỞI NGHĨA CHÀY VÔI, BẬC TRẦN TỰ LỖI LẠC DŨNG CẢM MƯU CUỘC ĐẢO CHÍNH CHỐNG NGUYỄN ĐỂ CỨU DÂN TỘC
Vào nửa sau thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và dần chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862),triều đình vua Tự Đức không những bạc nhược ký hòa ước nhượng đất cầu hòa mà còn bóc lột cùng cực nhân dân, ép hàng vạn binh lính và thợ thuyền lao dịch khổ sai để xây dựng lăng mộ Vạn Niên Cơ (lăng Tự Đức). Trước nỗi nhục non sông bị cắt đất và tiếng than khóc dậy trời của muôn dân, chí sĩ Đoàn Hữu Trưng (1844 – 1866, tự Tuấn Trình, hiệu Doãn Trai) – danh sĩ đất Thừa Thiên – đã lãnh đạo cuộc biến động lịch sử kinh thiên động địa năm Bính Dần (1866),được dân gian lưu danh là cuộc Khởi nghĩa Chày Vôi.
Bậc tài hoa đất kinh kỳ và bước rể quý của hoàng tộc:
Sinh ra tại làng An Truyền (thường gọi là làng Chuồn), huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên, Đoàn Hữu Trưng mồ côi cha từ nhỏ nhưng nổi tiếng thông minh xuất chúng, học rộng biết nhiều, hay chữ bậc nhất kinh đô bấy giờ. Tài đức của ông khiến danh thần Thọ Xuân Vương Miên Định (chú ruột của vua Tự Đức) cảm phục, gả con gái là quận chúa Thể Cúc cho ông. Trở thành hoàng thân phò mã chốn lầu son gác tía, hưởng đủ vinh hoa phú quý, nhưng tâm can Đoàn Hữu Trưng chưa từng nguôi ngoai nỗi đau non sông rách nát và nỗi thống khổ của trăm họ.
Nỗi uất hận Vạn Niên Cơ và ngọn lửa quật khởi:
Năm 1864, triều đình Tự Đức khởi công xây dựng Vạn Niên Cơ quy mô khổng lồ. Hàng vạn dân phu và binh lính bị bắt làm việc cực nhọc ngày đêm, lao dịch dưới mưa bom bão đạn của thời tiết khắc nghiệt, ăn đói mặc rét, dịch bệnh hoành hành khiến xương thịt chất chồng. Tiếng oán thán vang dậy khắp kinh thành qua câu ca dao bi phẫn:
"Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân!"
Nhìn thấy triều đình nhu nhược để mất ba tỉnh Nam Kỳ vào tay giặc Pháp mà lại dồn hết sức người, sức của xây lăng tẩm hưởng lạc, Đoàn Hữu Trưng cùng các em ruột (Đoàn Tư Trực, Đoàn Quý Trực) và bạn bè đồng chí (như Trương Trọng Hòa, Phạm Lương) quyết định không thể ngồi yên nhìn giang sơn sụp đổ.
Thành lập Đông Sơn thi tửu hội – Kêu gọi nghĩa quân Chày Vôi:
Lấy vỏ bọc là hội xướng họa thơ ca ngâm vịnh "Đông Sơn thi tửu hội", Đoàn Hữu Trưng bí mật liên kết với giới thợ thuyền, binh lính xây lăng và giới sĩ phu yêu nước. Ông chủ trương lật đổ vua Tự Đức để phò tá Đinh Đạo (con trai cả của cố Thái tử Hồng Bảo) lên ngôi, nhằm chấn hưng triều chính, cải cách đất nước và dốc toàn lực đánh đuổi thực dân Pháp, thu hồi lại đất đai Nam Kỳ.
Binh lính phu trạm xây lăng lúc bấy giờ vũ khí thô sơ chỉ có dùi đục, vồ đóng cọc và chày giã vôi. Lấy chính những công cụ lao động khổ ải ấy làm vũ khí diệt bạo quyền, Đoàn Hữu Trưng đã hiệu triệu được hàng ngàn người tham gia.
Đêm binh biến quả cảm giữa lòng Đại Nội (1866):
Rạng sáng ngày 16 tháng 9 năm 1866 (tức ngày 8 tháng 8 năm Bính Dần), Đoàn Hữu Trưng phát lệnh khởi nghĩa.Đạo nghĩa binh Chày Vôi rầm rộ từ lăng Vạn Niên tiến thẳng vào kinh thành Huế. Nhờ nội ứng của các quan lại giữ cổng thành, nghĩa quân đã thâm nhập thẳng vào cấm thành qua cửa Thể Nhơn (cửa Ngăn), xông vào điện Cần Chánh để bắt vua Tự Đức.
Cuộc tấn công diễn ra vô cùng dũng mãnh và bất ngờ làm rúng động cung đình. Tuy nhiên, trước sự chống trả quyết liệt của lực lượng cấm quân thị vệ trang bị hỏa mai cùng sự phản trắc, thiếu hiệp đồng của một vài mắt xích nội ứng, cuộc đảo chính đã không thành công. Đoàn Hữu Trưng cùng các thủ lĩnh bị bắt sống.
Khí tiết kiên trung bất khuất trước bản án lăng trì:
Triều đình Tự Đức đã thi hành bản án trả thù tàn khốc bậc nhất: Đoàn Hữu Trưng cùng các anh em đồng chí bị kết án lăng trì (chém bêu đầu), gia quyến bị tru di ba họ, hoàng tử Đinh Đạo cùng dòng dõi Hồng Bảo bị xử tử.
Đứng trước pháp trường đao phủ, người thanh niên ái quốc Đoàn Hữu Trưng mới 22 tuổi vẫn ngẩng cao đầu hiên ngang, dõng dạc nhận hết trách nhiệm về mình, khẳng định mục đích duy nhất của cuộc khởi nghĩa là cứu muôn dân khỏi lầm than và chuẩn bị lực lượng kháng Pháp cứu nước. Khí phách lẫm liệt ấy đã tạc nên khúc bi tráng bất hủ của kẻ sĩ yêu nước giữa thế kỷ XIX.
Cuộc khởi nghĩa Chày Vôi tuy thất bại nhưng đã giáng một đòn chí mạng vào sự mục ruỗng, bảo thủ của triều đình Tự Đức, thức tỉnh lòng yêu nước và phản kháng của các tầng lớp nhân dân trước nguy cơ mất nước cận kề.
Tên tuổi của chí sĩ Đoàn Hữu Trưng ngày nay được trang trọng đặt cho các tuyến đường lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh (thành phố Thủ Đức), thành phố Huế, thành phố Đà Nẵng và nhiều địa phương, mãi mãi là biểu tượng của tinh thần xả thân vì nghĩa lớn của kẻ sĩ xứ Huế.



