NHỮNG TRANG SỬ HÀO HÙNG: DANH THẦN TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ – BẬC ĐẠI THẦN "TAM TRIỀU NGUYÊN LÃO", NHÀ SỬ HỌC VÀ CỘT TRỤ ĐÌNH THẦN TRIỀU NGUYỄN THẾ KỶ XIX

Trong lịch sử vương triều Nguyễn, giai đoạn trị vì của các vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức ghi nhận nhiều biến động sâu sắc của vận mệnh dân tộc. Trải qua hơn bốn mươi năm phụng sự xã tắc, đứng đầu Nội các và viện Cơ mật,Tuyết Đường công Trương Đăng Quế (1793 – 1865, tự Đoan Trai, hiệu Quảng Khê) – Cần Chánh điện Đại học sĩ, Thái sư, tước Tuy Thịnh Quận công – là vị danh thần nắm giữ vị thế trọng yếu bậc nhất, người có công lao to lớn trong công tác chấn hưng khoa cử, xây dựng pháp điển và biên soạn các bộ quốc sử đồ sộ của đất nước.
Bậc hiền tài khai mở truyền thống khoa bảng đất Quảng Ngãi:
Sinh ra tại làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn (nay thuộc xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi),Trương Đăng Quế xuất thân từ một dòng họ danh gia Nho học. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, cần cù hiếu học và có trí nhớ phi thường. Năm Kỷ Mão (1819) dưới triều vua Gia Long, ông thi đỗ Hương tiến (Cử nhân) tại trường thi Thừa Thiên, trở thành vị khoa bảng đầu tiên khai khoa cho vùng đất Quảng Ngãi, mở đường cho truyền thống học vấn hiển hách của quê hương núi Ấn sông Trà.
Bậc lương thần kinh bang tế thế, cột trụ qua bốn triều vua:
Bước vào chốn quan trường, Trương Đăng Quế được các vị vua triều Nguyễn đặc biệt kính trọng và tin tưởng trao phó những trọng trách cao nhất trong triều đình:
Ông lần lượt giữ các chức vụ Thượng thư Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hộ, Đại học sĩ điện Cần Chánh, quản lý Viện Cơ mật và Hàn lâm viện.
Được hai vị vua Minh Mạng và Thiệu Trị trước khi thăng hà trao di chiếu làm Cố mệnh đại thần (phụ chính đại thần), cùng gánh vác việc triều chính, bảo đảm sự ổn định và tiếp nối quyền lực quốc gia.
Ông là vị đại quan phụng sự trọn vẹn qua bốn triều vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), được người đời tôn xưng là bậc "Tam triều nguyên lão" đức cao vọng trọng.
Tổng tài biên soạn các công trình quốc sử và địa chí vô giá:
Đóng góp văn hóa và học thuật to lớn nhất của Trương Đăng Quế chính là trên lĩnh vực sử học và biên khảo. Trên cương vị Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn, ông trực tiếp chỉ đạo và tham gia khảo cứu, biên soạn nhiều công trình đồ sộ mang giá trị di sản văn hóa đặc biệt của dân tộc:
Đại Nam thực lục (Tiền biên và Chính biên): Bộ chính sử ghi chép toàn diện, chi tiết nhất về các chúa Nguyễn và các triều vua Nguyễn.
Đại Nam hội điển sự lệ: Bộ bách khoa thư về luật pháp, quan chế và thiết chế hành chính quốc gia.
Đại Nam nhất thống chí: Bộ địa chí toàn cảnh về lãnh thổ, cương vực, phong thổ và con người Việt Nam thống nhất.
Bên cạnh sử học, ông còn là một nhà thơ lớn với các tập thơ Quảng Khê thi tập, Học văn dư tập, thể hiện tâm hồn thanh tao của bậc đại sĩ phu.
Đức độ thanh liêm và nhân cách người thầy mẫu mực:
Dù nắm giữ quyền lực tột đỉnh chốn triều nghi, Trương Đăng Quế luôn nổi tiếng là vị quan thanh liêm, chính trực,khước từ mọi bổng lộc phi nghĩa, nếp sống giản dị và giữ mình nghiêm cẩn. Ông từng làm thầy dạy học cho các hoàng tử (trong đó có vua Thiệu Trị thời còn là hoàng tử), đào tạo nên nhiều nhân tài cho đất nước. Nhận rõ những biến động phức tạp và hiểm họa từ phương Tây vào những năm cuối đời, ông kiên quyết từ quan về trí sĩ tại quê nhà năm 1863, giữ tròn khí tiết của kẻ sĩ trước khi qua đời vào năm 1865. Vua Tự Đức thương tiếc, truy tặng ông tước Thái sư và chức vị cao quý.
Cả cuộc đời hơn 40 năm phụng sự non sông của Trương Đăng Quế là bài học lớn về tinh thần trách nhiệm, lòng tận tụy với công việc quốc gia, đạo làm quan thanh bạch và những cống hiến bền bỉ cho kho tàng văn hóa, lịch sử nước nhà.
Quần thể lăng mộ và nhà thờ Trương Đăng Quế tại xã Tịnh Khê (thành phố Quảng Ngãi) ngày nay được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Tên tuổi của ông được trân trọng đặt cho các tuyến đường lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh (quận Gò Vấp), thành phố Quảng Ngãi, thành phố Đà Nẵng và nhiều địa phương trên cả nước.



