Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NƠI CHÔN RAU CẮT RỐN

Đoạn hồi ký kể về tuổi thơ và quá trình giác ngộ cách mạng của tác giả tại làng Hương Quế (Quảng Nam) trong bối cảnh đất nước dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Tác giả sinh ra trong một gia đình nông dân khá giả, được học hành và sớm hình thành tình yêu quê hương, lòng thương người nghèo qua cuộc sống ở làng quê và qua sự giáo dục của cha, thầy học. Những biến động của xã hội, sự khổ cực của nhân dân cùng ảnh hưởng từ sách báo và các tấm gương yêu nước đã dần thức tỉnh tư tư

Lai Châu17/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mười năm sau ngày khởi nghĩa Duy Tân (1916) tôi chào đời ở làng Hương Quế. Cha tôi, ông Nguyễn Giác, không đỗ đạt khoa bảng, không tham gia quan trường nhưng là người có học vấn thâm nho, chuyên nghiệp nông tang, ông sống đức độ nhân từ, thông minh chính trực, trung nghĩa hiền lương. Cha tôi trước sau có ba đời vợ. Bà đích mẫu của tôi sinh được 9 người con gồm 4 trai, 5 gái, bà lâm bệnh qua đời. Kế mẫu của tôi sinh được một nữ, nhưng bà cũng qua đời sớm, sau gần 10 năm sinh sống với cha tôi. Bà thân mẫu của tôi, sinh được ba người con, hai trai một gái, tôi là con út thứ 14. Anh chị em tôi trước sau còn sống được 9 người, gồm 4 trai 5 giá. Ngày xưa ở nông thôn các cụ quan niệm giàu tiền, giàu của không bằng giàu con, mà giàu con tức là giàu của. Đất Hương Quế đa phần thuộc vào loại đất nhất đẳng điền. Gia đình tôi có ruộng đất khá. Hồi đó cây lúa chỉ làm được 2 vụ: vụ đông xuân và vụ hè, nhưng hàng năm nhà tôi thu được cũng phải đến hàng ngàn ang lúa, còn sắn, khoai và các loại đậu… đến mùa thu về cũng khá nhiều. Nhà tôi có chòi ép mía, lò nấu đường, trong năm có cả mấy chục ghè dựng đường. có của ăn, của để trong nhà, trai tráng trong làng giúp cho gia đình tôi ngày có đến hàng chục người. Tôi là con út trong gia đình nên được cha mẹ, anh chị em sớm tối chăm chút, cưng chiều. Có thể nói thời trẻ, tôi được sống trong một gia đình tương đối khá giả ở một vùng chuyên nông. Sau này tôi lớn lên, cha tôi mới kể lại. Hồi đó, bà con nông dân làng tôi con cực khổ lắm. Nhất là những người ngụ cư không có ruộng đất phải đi làm thuê, ở mướn để kiếm cơm ăn, gia đình họ quanh năm tất bật trong cảnh mưu sinh, nhưng cái ăn cái mặc vẫn thiếu thốn mọi bề, không được học hành. Đất nước thời đó ở vào giai đoạn lầm than, vua quan Nam triều và bọn thực dân thì sống xa hoa, Bảo Đại làm vua, thạo nhảy đầm, uống rượu tây, đi săn bắn, chẳng quan tâm đến việc quốc kế dân sinh.

Năm 1927, tình hình đời sống chính trị ở làng Hương Quế quê tôi, cũng như trong huyện Quế Sơn và tỉnh Quảng Nam bước vào giai đoạn “ngặm tăm”. Nguôn tin Chi bô Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội được thành lập ghi dấu ấn lịch sử trong đời sống chính trị các tầng lớp nhân dân yêu nước Quảng Nam. Chi bộ Đảng Cộng sản do đồng chí Đỗ Quang là một trong những cán bộ cốt cán của Đảng làm bí thư(1), vào đầu năm 1928. Những hạt giống đỏ của cách mạng được nhân dân Quảng Nam chăm bón đã sinh sôi nảy nở. Đầu năm 1929, các tổ chức của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Điện Bàn, Duy Xuyên… mỗi nơi đều thành lập một chi bộ. và sau tháng 3/1930 được chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đến tháng 4/1930, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện quế sơn được thành lập. Những người con của Quế Sơn từ đồng ruộng ra đi tìm cách mạng, giờ đây lại tụ tập về trên quê hương xây dựng tổ chức cho huyện nhà. Chỉ một thời gian sau sự kiện trọng đại này, đồng chí Phan Thêm, một cán bộ của tỉnh hoạt động tại đây, đã thành lập thêm một chi bộ ghép ở làng Nghi Hạ - Nghi Lộc có 6 đảng viên và một tổ Đảng ở chợ Trung Phước. Đến cuối tháng 8/1930, toàn huyện Quế Sơn có 2 chi bộ, 1 tổ Đảng với 15 đảng viên. Từ hạt giống đỏ đầu tiên, đội ngũ những người Cộng sản đã từng bước cắm rễ vào lòng dân để rồi sinh sôi, nảy nở trên đất Quế sơn.

Tôi lớn lên trong bối cảnh lịch sử sôi nổi của huyện nhà. Năm lên 8 tuổi, tôi được cha mẹ cho đi học chữ Quốc ngữ ở trường làng. Tôi được thầy khen là sáng dạ. Cha tôi thường động viên:

- Học đi con, ráng mà học kiếm đôi chữ, có giê lúa cũng biết được hướng gió để mà giê

Lời ông ấm áp và trìu mến, sao tôi nghe như một “mệnh lệnh”. Tôi không dám xao lãng việc học bao giờ. Tôi còn nhớ Tết năm 1937, bà con đến chục Tết cha mẹ tôi, ai cũng trầm trồ khen tôi:

- Cậu Út ngoan, học giỏi. Cậu Út không đua đòi!

Mẹ tôi hãnh diện lắm, bà xoa đầu tôi nói:

- Con noi gương các anh, chị, phải cố gắng học hành, mẹ trông mong vào con đó!

Hai năm sau tôi thi đậu yếu lược, cha mẹ tôi vui lắm. Các anh chị tôi thì khỏi phải nói. Anh Sầm, anh Lộc trầm trồ:

- Mi mà đậu được primaire thì phải biết.

Nghe vậy, tôi sướng lắm, trong bụng phơi phới, liền nói với hai anh tôi:

- Nếu được cha mẹ cho đi học tiếp thì em cố gắng thi đậu cho anh coi!

Sau đó cha mẹ tôi bàn định đưa tôi đi học xa, một là vô Thăng Bình, hai là ra phủ Duy Xyên, ba là xuống thị xã Hội An để học. Nhưng ý định đó không thực hiện được. Mẹ tôi lâm trọng bệnh, bà đột ngột qua đời. tôi khóc mẹ nước mắt hầu như khô cạn. Người mẹ đã tảo tần cùng cha tôi gầy dựng cơ nghiệp gia đình và nuôi đàn con 8 đứa trưởng thành. Vào tuân 100 ngày của mẹ tôi, rồi, mà không khí tang tóc vẫn bao trùm trong nhà vốn êm đềm như một tổ ấm. Cha tôi thì như con cuốc lạc đàn, còn anh em tôi như gà con lạc mẹ. Người thân trong gia đình mất đi thì không có gì so sánh được. Cách đấy một trăm ngày, cha mẹ tôi như đũa liền đôi, nay mẹ tôi mất rồi, căn nhà ngói rộng ba gian chừng như hoang vắng. Đến trưa thì đám làm tuần vãng người tới phúng vái, cha tôi gọi tôi lên, ông nói:

- Hồi còn sống, mẹ con khuyên cha phải cho con đi học thành tài, nay mẹ con đột ngột qua đời nên bây chừ không đi xa được, thôi con đến thầy Thân học đôi chữ nho để thành đạt trong làng như các anh con, đọc được gia phả, dẫn giải công lao của các đấng tiền nhân, giúp cho các thế hệ sau này biết mà giữ gìn bẳn sắc của dòng họ, xóm làng chứ không thì mai một hết con ạ! Vả lại con học chữ là học đạo làm người, người mà biết chữ đời nào cũng có ích, con hãy nghe lời cha gắng mà học hành, nghe con.

Tôi không còn cách nào hơn là đồng ý theo ý nghĩ của cha học chữ nho, cũng để vơi đi nỗi buồn mất mẹ. hồi đó, làng Hương Quế có thầy Võ Văn Thân dạy chữ nho. Thầy Thân là một nhà nho đức độ, tinh thông kinh sử nhưng không được chính quyền thực dân cho đi thi cử vi thấy thầy có thái độ, tư tưởng chống chế độ thuộc địa. Thầy phải mở trường dạy tư ở làng để kiếm sống. tôi là một trong tám học trò của lớp. Tất cả đều quý mến thầy. Trong giảng bài thầy thường kết hợp chuyện đông tây, kim cổ để liên hệ thực tại và nhấn mạnh đến tình yêu nước, thương dân của các nhân vật trong truyện. Lời thầy nhẹ nhàng truyền cảm mà sâu lắng. Chúng tôi nghe với lòng kính phục, trân trọng thầy. cũng từ đó, trong tôi như được bồi đắp, hình thành suy nghĩ tốt đẹp về tình yêu quê hương, đất nước và con người. Té ra tình yêu quê hương đất nước, nó không cao xa, đòi hỏi gì nhiều. Quê hương đất nước là cánh cò, đồng lúa, là con đường rợp bóng tre, các câu hò, lời ru ngọt ngào; những người thân quen chơn chất và những bạn bè, kỉ niệm mà mỗi khi nhắc đến, hoặc đi xa luôn nhớ tới, luôn ẩn chứa trong tâm thức mỗi người không thể nào thiếu được.

Trong những giờ giảng dạy, đôi khi thầy trầm ngâm, như nhìn xa xôi, rồi nhẫm đọc đôi câu ca dao, như thể nói với học trò của mình, mà cũng là tấc lòng của thầy.

Người đi ghi khắc một lời
Thương nhau áo rách, nón cời vẫn thương


Đặc biệt, thầy hay đọc bài về Phan Thanh - một trí thức yêu nước, xuất thân ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, vùng đất có nhiều tên tuổi nổi tiếng. Câu vè thầy đọc với tất cả tâm niệm, ai nghe cũng xúc động:

… “Anh Thanh vừa mới lâm chung
Người người rơi lệ vô cùng thảm thương
Than ôi, số kiếp đoạn trường
Tuổi vừa Ba mốt dứt đường trần gian
Anh sanh ngày Một, tháng Juin (tháng Sáu)
Ở Điện Bàn phủ, Bảo An quê nhà
Tình người đậm nghĩa thiết tha
Tuổi xuân anh đã xông pha cho đời…”


Cũng từ đó, tôi nhìn xa hơn và càng hiểu được những người yêu nước là ai, vào do đâu họ dám xả thân hy sinh mà không tiếc tuổi xanh, xương máu của mình.

Sống ở trong làng, một làng quê, con người, cảnh sắc đều đẹp, đều đáng yêu, nhưng nhiều người còn cơ cực quá. Làm thuê, ở mướn, ăn xin như số phận đeo đẳng suốt đời này, qua đời khác ở một số bà con. Tôi gặp họ, nhìn họ mà lòng dạ cứ xốn xang. Gia đình tôi, nhờ cha tôi tảo tần, tích góp từ đời ông nội đến giờ, nên mới có ruộng đất và cơ ngơi khá hơn, vì thế hằng tháng có đến hàng chục người đến xin việc làm. Ruộng nương phần lớn nhờ nước trời, quanh năm hai vụ bấp bênh. Nhà phải có đông người như nhà tôi thì mới làm nổi công việc đồng áng và mới có dư. Những buổi tôi nghỉ học, cha tôi bảo tôi ra đồng cùng với người làm công như gặt lúa, đốn mía, nhổ đậu, đào khoai… Ý cha tôi là có người để trông chừng vì cũng có khi mất mát. Tôi ra đồng, cầm theo cuốn tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, được anh Hoàng làng bên cho mượn, cuốn sách tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, vì lúc bấy giờ rất hiếm sách, báo. Tôi kiếm một bóng cây ngồi đọc, có biết việc mất mát, hễ lơ đễnh, là có người nào đó nhanh tay trút lúa bỏ vào mủng(1), nhưng tôi không để ý, phản ứng gì. Tôi nghĩ: người đi mót, đội một cái mủng đựng chừng một ang lúa, nếu họ trút đầy mủng, thì mất một ang lúa chẳng đáng là bao, trong khi nhà tôi mỗi năm thu hàng ngàn ang lúa…

Một số người làm công, nhất là bà con trong làng, đến xem tôi đọc sách. Có người chân tình bảo tôi:

- Tôi biết cậu Út có lòng thương người. Chứ mấy người con của chủ khác, hễ lượm của nó một gié lúa rơi, nó cũng xô đẩy la mắng, đâu có dễ như cậu. Tôi, cậu ở hiền gặp lành. Biết thương người thì người thương mình. Tôi nhìn cậu biết mai này trưởng thành, thì cậu hiểu biết và sẽ làm nhiều việc có ích cho đời. Cậu Út cứ đọc sách, khi nào có người ôm lúa chạy, thì tôi la giúp cậu. Nói rứa chứ thiếu miếng ăn là khổ nhục lắm cậu ạ!

Lời nói của bà con nhẹ nhàng, nhưng tôi có nhiều suy nghĩ, day dứt. Có năm mùa màng thất bát, hạt cơm trong mùa giáp hạt đối với bà con nghèo đói là quý giá vô cùng.

Năm 1940, tôi quay lại học quốc ngữ tại làng với một cố gắng thi đỗ primaie rồi về làm thầy giáo “gõ đầu trẻ” ở làng. Nhưng dự tính đố của tôi không bao giờ thực hiện được vì chiến tranh thế giới lần thứ hai bung nổ. Trục tam cường phát xít Đức - Ý - Nhật gây chiến phân chia thị trường thế giới. tình hình chiến tranh thế giới phát triển vô cùng mau lẹ. Nước Đức, nước Ý phát xít mở rộng chiến tranh ở Châu Âu đánh chiếm nước Pháp. Ngày 22/6/1940, nước Pháp phải kí hiệp ước đầu hàng nước Đức phát xít. Ở Châu Á phát xít Nhật áp dụng chính sách tiến về phía Nam, tiến công Trung Quốc. tháng 9/1940, thực dân Pháp dâng xứ Đông Dương cho Nhật. Cuối năm 1940, quân Nhật tràn vào miền Bắc, không bao lâu sau quân đội Nhật chiếm đóng thành phố Đà Nẵng, chiếm giữ sân bay, hải cảng và các trục đường chiến lược giao thông quan trọng, chúng xây dựng Đà nẵng thành căn cứ hậu cần lớn gồm các khu kho chứa xăng, gạo, súng, đạn ở núi Đà Sơn và một số vùng lân cận như bãi Xuân Thiều (Hòa Vang), Điện Thắng, Vinh Điện (Điện Bàn), Nam Phước (Duy Xuyên), Bà Rén, Hương An (Quế Sơn)…

Về chính trị, chúng phô trương thanh thế hùng mạnh: rêu rao các thuyết lừa bịp: Đại Đông Á, trật tự mới, khu thịnh vượng chung… để gây ảnh hưởng trong dân chúng còn mờ mit trước tình hình đang diễn ra trên thế giới và trong nước.

Về kinh tế, chúng vơ vét thóc gạo, bông, dầu phụng để phục vụ chiến tranh. Công nhân các ngành hỏa xa, bưu điện phải làm việc thêm giờ mà không được tăng lương. Chúng bắt dân ta lao dịch khổ sai mở rộng sân bay bến cảng… người người bệnh tật đói khát, có người bị chúng đánh chết bỏ xác vào thùng vôi, ai chống đối chúng chặt đầu căm lên cọc tre lớn bên đương có nhiều người qua lại, để răn đe dân chúng… Tôi lớn lên trong bối cảnh lịch sử của đất nước, dân tộc phải chịu cảnh nhà tan cửa nát, xích xiềng nô lệ, nhân dân ta không chịu nổi cảnh một cổ hai tròng, nên trước đó đã nổi dậy khởi nghĩa ở Bắc Sơn (27/9/1940); binh biến Đô lương (13/1/1941). Tất cả những diễn biến đó báo hiệu một thời kì mới - thời kì khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân(2).

Đầu năm 1941, làng Hương Quế quê tôi bỗng sôi nổi về một người vừa quen biết, vừa “lạ lẫm” đó là một thanh niên thông minh, tuấn tú: Anh Phạm Ngọc Trình (anh là con của ông Phạm Thắng, làm hương bộ làng Hương Quế) bạn học của tôi bốn năm về trước. Khi tôi đi học chữ nho, thì anh học tiếp quốc ngữ đỗ primaire rồi thoát li hoạt động cách mạng lúc nào không hay nay đột ngột xuất hiện. Gặp tôi anh hỏi:

- Cậu Út (hồi nhỏ tôi tên là Út) còn đi học kia à!

Tôi không trả lời mà hỏi lại anh;

- Chứ mấy năm qua anh đi mô mà biệt tăm rứa?

Anh cười thân mật rồi vỗ vai tôi:

- Với cậu thì mình không dấu diếm chi mô! Mấy năm qua mình thoát li hoạt động, nay được cử trở về làng phát triển lực lượng.

Tôi nghe anh nói, trống ngực cứ đánh liên hồi. Ý tứ và lời nói của anh mới mẻ quá, tôi thầm kính phục anh. Thấy tôi chăm chú, anh nói tiếp:

- Minh nói thiệt, cậu sắp là một thanh niên rồi, phải lo chọn cho đời mình một hướng đi, chứ cậu cứ bám ruộng, bám vườn làm giàu, như gia đình cậu cả cuộc đời chẳng giải quyết được gì ngoài cái công thức: Giàu sang, lấy vợ, đẻ con, an phận thủ thường thì con đua chí khí của đời trai. Đất nước dân tộc đang chìm đắm trong cảnh can qua mình không góp phần, thì mai sau cuộc sống dẫu có vương giả thế nào cũng hoài tiếc tuổi xuân.

Tôi nghe anh Trình nói như rót mật vào lòng. Sự tưởng tượng, niềm vui như chợt le lói, nhóm lên trong tâm thưởng tôi trước bao điều mới mẻ. Nhìn lại gia đình tôi, các chị đã đi lấy chồng, còn lại bốn anh em trai thì mỗi người đều có một dãy nhà ngói, quanh năm lam lũ với ruộng đồng, tầm mắt, cuộc đời không ra khỏi lũy tre làng. Tôi là con út mà cha tôi cũng đã làm sẵn một ngôi nhà mới để chuẩn bị yên bề gia thất. Ruộng đất ngày càng rộng ra, tôi thấy tá điền thỉnh thoảng đem khế ước đế nhà tôi bán đất cho cha tôi. Thời gian qua tôi có dịp đi coi gặt, coi chặt mía, được gặp gỡ bà con lao động, tôi thấm thía cảnh nghèo khổ của đời người ông dân đi làm thuê, lượm mót. Nó giống như cuộc đời của anh tá điền và chị Dậu trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, mà anh Vũ Trọng Hoàng bên làng Phương Trì cho tôi mượn đọc trước đó. Thấy tôi tần ngần, anh Trình ôm vai tôi vừa đi anh vừa nói:

- Đất nước mình bị thực dân Pháp xâm lược 80 năm, nay lại bị giặc Nhật chiếm đóng chúng chia cắt đất nước ta nhượng cho Xiêm tặc, đem lợi quyền hiến cho quân giặc Phù Tang, dân ta phải một cổ hai tròng, nước ta chúng chia xẻ như hàng bán buôn. Nhân dân ta hiện nay vừa bị Pháp áp bức, đất nước ta lại bị phát xít Nhật dày xéo không thể nào chịu nỗi cảnh áp bức, bóc lột, đè nén đó. Vậy thì ta phải làm cách mạng, phải tổ chức lực lượng để đứng lên chống lại đế quốc xâm lược, giải phóng cho dân tộc ta. Làm cách mạng thì có tổ chức, có Đảng, lãnh đạo đưa lối chỉ đường.

Ngay từ ngày gặp anh Trình, tôi như người đang trôi lênh đênh tên biển cả, được lão ngư chỉ cho hướng cập bờ, người cứ lâng lâng khó tả. Tuy nhiên tôi cũng làm một bài toán so sánh thô thiển: Nhật, Pháp đều mạnh, vũ khí tối tân làm gì ta có thể chống lại. Chính những suy nghĩ tư tưởng đó có thể làm chậm lại sự đón nhận luồng sinh khí mới do anh Trình đem đến cho tôi. Mấy lần gặp sau, tôi vẫn được anh Trình thân tình trò chuyện mỗi ngày sâu sắc hơn, thấm thía hơn. Anh viết vào vở tôi hai câu thơ, mà khi vào tù tôi mới biết được, đó là của nhà thơ cách mạng Tố Hữu:

Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
Chọn một dòng hay để nước trôi?


Đọc xong hai câu này lòng tôi cứ bời bời khó tả. Mấy lần sau nữa, anh dẫn tôi ra ngoài cánh đồng trống ngồi hóng mát, anh giảng giải đường lối chủ trương của Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Anh Trình chỉ cho tôi âm mưu của thực dân Pháp. Là vơ vét tài nguyên của đất nước ta đưa về Pháp, còn bắt thanh niên ta đi lính phục vụ cho chiến tranh xâm lược của chúng. Chính quyền phú hào tay sai chỉ là thi thể bù nhìn, bám gót thực dân mục ruỗng, làm sao tồn tại được, khi mà cao trào cách mạng có thời cơ bùng lên? Đứng trước tình hình đó, Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đặng đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng”(1). Lời nói của anh Trình như đã thấm vào cơ thể tôi. Tôi quyết định nhân tài liệu của anh giao và theo anh hoạt động. Gia đình tôi, nhất là vợ chồng anh Sâm, anh Lộc để ý thấy tôi có bữa trễ cơm, bữa trễ học, có lúc thẫn thờ, anh chị sinh nghi liền hỏi, tôi không thể dấu diếm được với các anh chị, nên phải nói thật:

- Em theo anh Trình hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc.

Anh Sâm tôi tròn mắt:

- Chú mà gan rứa hả? Coi chừng bọn hắn (chỉ bọn tay sai và thực dân Pháp) bắt được, là hắn đánh chết không tha đâu nghe chú!

Nói vậy, rồi không hiểu sao anh ôm tôi vào lòng, cầm tay tôi, nhìn vào mắt tôi, xúc động. từ đó anh Sâm và Lộc của tôi là người giúp đỡ đắc lực cho công tác của tôi. Anh Sâm thì cất giấu tài liệu trong lư hương, anh Lộc thi đón đưa bảo vệ tôi khi tôi đi đêm, về hôm trên bước đường đầu tiên đầy bỡ ngỡ và mạo hiểm. Tôi còn nhớ bài thơ Trăn trối của Tố Hữu. Họ nói trước khi chết trong tù, Tố Hữu viết bài thơ này từ trong ngục gửi ra, vì vậy từng câu, từng chữ của nó mạnh mẽ lôi cuốn đến mức ai đọc cũng đều thuộc, ai thuộc rồi thì không quên. Đó là những lời trăn trối đầy khí phách, một sự khẳng định không bi lụy:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa…


Tôi không giải thích gì thêm với hai anh tôi, nhưng khi thuộc bài thơ Trăn trối này, cùng với những ngày tiếp xúc các anh chị thầm lặng với công việc trước phong trào cách mạng ngày một sục sôi. Anh Sâm sau là cán bộ Nông hội xã, anh Lộc trở thành đảng viên Cộng sản.

Vào tháng 5/1941, sau 5 tháng tôi nhận công tác đúng vào ngày Premier-Mai (Quốc tế lao động 1 tháng 5) anh Trình hẹn tôi đến một đám mía cách miếu Đen một cây số, bí mật làm lễ kết nạp tôi và bốn người bạn học của tôi vào Đoàn thanh niên phản đế. Tôi còn nhớ lời tuyên thệ khi được kết nạp là:

Trung thành với cách mạng, nếu bị địch bắt
không đầu hàng, không khai báo, không phản bội.


Trong tổ, anh Nguyễn Xuân Vĩnh được phân công làm tổ trưởng, anh Phạm Cai, liên lạc; tôi, Nguyễn Huy Chương phụ trách tài chính; còn hai anh Phạm Phổ và Trần Nghi là tổ viên. Anh Trần Nghi là con của một quản cơ lính Pháp được giác ngộ tham gia hoạt động hăng hái.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn