Bài viết

NỖI ĐAU CÒN LẠI

Đà Nẵng30/11/2025CHI ĐOÀN TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 HÒA TIẾN (xã hòa tiến)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm

Đất anh hùng trung dũng là đây

Chín năm kháng chiến đánh Tây

Hai mươi mốt năm chống Mỹ đến ngày vinh quang”

Mảnh đất xứ Quảng luôn là một trong những địa chỉ đỏ, là biểu tượng của tấm gương chiến đấu anh hùng, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều anh hùng liệt sĩ, cũng là nơi chứng kiến nhiều chiến công anh dũng của bao thế hệ cha anh. Trên chiến trường oanh liệt là thế thì phía hậu phương cũng là nơi chứng kiến bao tấm gương hi sinh thầm lặng của bao người vợ, người mẹ.

Ngày ấy, khi đất nước còn chìm ngập trong khói lửa của chiến tranh. Ở làng quê nghèo thôn Bích Bắc, có hai vợ chồng trẻ: ông Hà – người lính trẻ gan dạ và bà ba Được – vợ ông Hà, một người phụ nữ tần tảo, kiên cường nơi mảnh đất hậu phương. Đây cũng chính là ông bà nội của tôi.

Ông Hà giữ chức vụ chính trị viên xã đội, cầm súng chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương. Những ngày tháng chiến đấu ác liệt nhưng ông luôn can đảm gan dạ chiến đấu hết sức mình. Bà Được là một người phụ nữ điển hình cho tấm gương hi sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ. Thường ngày, ông đi chiến đấu ở căn cứ, hiếm khi về thăm gia đình, bà một tay chăm sóc cho con cái, mẹ già, đồng thời, nhà bà cũng là một nơi nuôi quân bí mật trong làng. Bà kể có lần: Bọn địch bắt được một chiến sĩ gần nhà bà, thế là tất cả những người sống gần đó đều bị địch bắt ra tra khảo dã man. Bà tôi cũng bị bắt đi, bị đánh bắt phải khai ra thông tin của chiến sĩ, ... Bà kể, lúc bị dẫn đi, tim bà đập thình thịch, tay chân run rẩy. Bọn địch tra khảo rất tàn nhẫn, dùng đủ cách để bắt bà khai ra thông tin về chiến sĩ. Nhưng bà tôi cắn răng chịu đựng, không nói nửa lời. Những trận đòn roi, những lời hăm dọa không làm bà khuất phục. Trong lòng bà chỉ nghĩ đến chồng, đến làng xóm, đến những người lính còn đang chiến đấu ngoài chiến trường.

Đêm về, bà được thả ra sau nhiều giờ bị giam giữ, cơ thể rã rời, nhưng ánh mắt vẫn sáng. Bà kể rằng, chính niềm tin, lòng yêu nước và nỗi nhớ gia đình đã giúp bà vượt qua được những ngày tháng kinh hoàng ấy. Về đến nhà, bà ôm các con, lau những giọt nước mắt rơi trên gò má nhăn nheo, và hứa với lòng mình sẽ luôn giữ vững ý chí, không bao giờ phản bội đồng đội và quê hương. Bà nói: “Ngày ấy, từng phút từng giây đều như thử thách, nhưng cũng là bài học để hiểu được giá trị của lòng kiên cường, của sự hy sinh và của tình yêu thương gia đình.”

Chiến tranh khốc liệt khiến bao nhiêu gia đình phải chịu mất mát, nhưng với bà Được, nỗi lo lắng về chồng nơi tiền tuyến không bao giờ khiến bà gục ngã. Mỗi sáng bà dậy sớm, quét dọn nhà cửa, chuẩn bị bữa ăn cho con cái và mẹ già, rồi lặng lẽ tiếp nhận những người lính, những cán bộ cách mạng từ ngoài vào trú ẩn. Bà biết rằng, những hành động nhỏ bé ấy nhưng lại góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương.

Trong những đêm tối, khi tiếng bom đạn ngoài làng vang lên, bà vẫn kiên nhẫn dỗ dành con, giấu kín những nỗi lo sợ để giữ bình tĩnh. Dù cơ cực, dù thiếu thốn, bà luôn nhắc nhở các con: “Cha con đang chiến đấu cho bình yên của chúng ta, nên con hãy ngoan, học hành chăm chỉ.” Tấm lòng kiên cường và tinh thần hy sinh thầm lặng của bà trở thành chỗ dựa vững chắc cho gia đình và là nguồn động lực giúp những người chiến sĩ ngoài mặt trận vững bước chiến đấu.

Sau mỗi trận chiến ác liệt, khi ông Hà trở về, đôi mắt ông ánh lên niềm tự hào và biết ơn sâu sắc: không chỉ ông chiến đấu bảo vệ đất nước, mà bà Được cũng âm thầm chiến đấu cho từng ngày sống còn của quê hương. Nhờ tình yêu thương và sự hy sinh của những người phụ nữ như bà, ngọn lửa cách mạng vẫn bùng cháy và truyền sức mạnh cho bao thế hệ sau.

Cho đến một hôm đang đi đốn củi nhưng linh tính mách bảo bà chuyện chẳng lành sắp xảy ra. Kể đến đây, nước mắt bà tôi lại giàn giụa ra. Khuôn mặt nhăn nheo lại nhưng toát lên nỗi buồn mãi chẳng vơi đi. Bà kể: lúc ấy bà đang đón củi, bà Hai hàng xóm hớt hải chạy xuống gọi bà về, bà Hai chẳng dám nói lời nào chỉ nói bà mau về nhanh, nhà có chuyện, dù không nói chuyện gì cả nhưng phần nào bà cũng đoán được chuyện gì đang xảy ra. Chạy về đến nhà, bà thấy có mấy người nữa cũng đang ngồi trong sân thấp thỏm lo lắng cho bà. Bà tôi được tin ông tôi đã hi sinh ở xóm Bùng, bên kia cầu Bầu Sấu, cách nhà chẳng xa mấy. Một đồng chí kể lại cho bà nghe, cả ba người đang băng qua đồng để về làng, chẳng may bị địch phát hiện, hai người còn lại may mắn tránh được làn mưa đạn của kẻ thù. Còn ông tội chẳng may trúng đạn nên đã hi sinh. Bọn chúng mang xác ông kéo về ngay cầu treo lên chờ người đến nhận. Cả làng ra xem rất đông nhưng không ai dám hé lời nào. Bà nội tôi cũng đến, có cả bà cố nữa – hai người phụ nữ, một người mất con trai, một người mất chồng - nén lại đau thương hòa vào đám đông lén đến nhìn ông lần cuối. Cả hai lặng lẽ nhìn rồi lặng lẽ rời đi, vì cả hai đều biết chỉ cần đổ một giọt nước mắt là đã làm cho bọn địch nghi ngờ. Xác ông tôi bị phơi mấy ngày, rồi ông lão làng bên thấy tội nghiệp bèn qua xin tha để mang xác ông đi chôn cất, bà nội tôi và bà cố lặng lẽ theo sau, trong lòng trĩu nặng nỗi đau nhưng không một lời than khóc. Bà còn kể, ngày ấy trong làng, ai cũng chuẩn bị sẵn cho ngày ra đi của mình nên cứ có điều kiện họ đều sắm sẵn áo quan để trong nhà, nhà nghèo chưa dùng đến thì người ta lại đem áo quan đi đựng lúa, đựng áo quần như cái rương, cái tủ. Ông tôi mất bất ngờ lại trong hoàn cảnh đặc biệt ấy nên gia đình cũng không kịp chuẩn bị áo quan cho ông. May thay, một người dân khác đã “cho mượn tạm” chiếc áo quan của mình. Tình cảm của đồng bào ta xưa nay vẫn vẫn đằm thắm, nghĩa tình đến lạ thường. Người cho mượn áo quan không một lời toan tính, chỉ âm thầm giúp gia đình tôi có thể chôn cất ông đúng nghĩa, để linh hồn ông được yên nghỉ. Khi đến nơi chôn cất, cả làng đã chuẩn bị một mộ đất nhỏ, giản dị nhưng đầy tấm lòng kính trọng. Bà nội tôi khẽ đặt tay lên nấm mộ, nén lại những tiếng nấc nghẹn ngào dành cho người chồng đã ngã xuống vì đất nước, trong khi bà cố thì âm thầm rải vài nắm đất lên trên, như thể đang trao gửi tất cả tình thương và nỗi nhớ của mình dành cho đứa con trai duy nhất của bà.

Bà kể, khi hay tin chồng hi sinh, lòng bà như bị bóp nghẹt. Nỗi đau dâng lên khôn cùng, nhưng bà không được phép gục ngã. Con gái thứ hai mới tròn sáu tháng, còn bé bỏng và hoàn toàn phụ thuộc vào bà. Bà phải gắng sức, vừa chăm sóc con nhỏ, vừa lo toan cho gia đình, vừa âm thầm vượt qua nỗi mất mát to lớn trong lòng. Những đêm khuya, khi cả nhà đã ngủ, bà ngồi bên khung cửa sổ, nhìn ra cánh đồng vắng, nhớ về chồng. Nỗi thương nhớ khiến bà không cầm được nước mắt, nhưng bà tự nhủ: “Mình phải sống, phải mạnh mẽ, để các con được lớn lên trong tình yêu thương và tự do mà bố chúng đã hy sinh.” Bà kể, chính trong những ngày gian khó ấy, tình làng nghĩa xóm, sự giúp đỡ của những người xung quanh đã trở thành điểm tựa quý giá. Bà và các con dần vượt qua đau thương, trưởng thành trong sự hy sinh thầm lặng mà bà luôn âm thầm giữ trong tim.

Bà nói, nỗi mất mát không bao giờ nguôi ngoai hoàn toàn, nhưng nó đã dạy bà biết trân trọng từng phút giây bên con, biết yêu thương và bảo vệ những giá trị thiêng liêng mà chồng bà đã để lại.

Không chỉ riêng bà nội tôi, mà còn biết bao người vợ, người mẹ, người con ở hậu phương đã lặng lẽ hi sinh, góp sức bằng tất cả yêu thương và sự kiên cường.
Họ không cầm súng ngoài chiến hào, nhưng chính sự bền bỉ của họ đã tiếp sức cho những người lính yên tâm chiến đấu. Câu chuyện của ông Hà, bà Được – họ là một mảnh ghép đẹp đẽ trong bức tranh lịch sử thời chiến – nơi mà tình yêu, lòng chung thủy và sự hi sinh lặng thầm đã trở thành biểu tượng bất tử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn