NƠI ÔNG NẰM, NƠI BÀ ĐỢI
Tháng Bảy. Nắng miền Tây Nghệ An vàng như mật.
Tôi đứng lặng giữa Nghĩa trang Liệt sĩ Việt – Lào ở huyện Anh Sơn. Trước mắt tôi là những hàng mộ trắng nối dài đến tận chân núi, lặng lẽ dưới màu xanh của những hàng thông. Gió từ dòng Lam thổi về nhè nhẹ, làm lay động những nén hương còn nghi ngút khói.
Giữa hơn 11.000 phần mộ của các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh khi thực hiện nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Lào, tôi tìm đến ngôi mộ mang dòng chữ quen thuộc:
Liệt sĩ Nguyễn Đình Tiềm.
Tôi cúi xuống, nhẹ nhàng thắp một nén hương.
Đã gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày ông ngã xuống, nhưng mỗi lần đứng trước phần mộ ấy, tôi vẫn có cảm giác như ông chỉ vừa mới đi xa.
Ông nằm đây, giữa những đồng đội năm xưa.
Ông là một người may mắn.
May mắn vì sau bao năm, gia đình vẫn biết ông đang nằm ở đâu.
Bởi chỉ cách vài bước chân, vẫn còn rất nhiều ngôi mộ vô danh. Trên những tấm bia đá bạc màu thời gian chỉ còn lặng lẽ khắc một dòng chữ khiến bất cứ ai cũng nghẹn lòng:
"Chưa biết tên anh, nhưng chiến công của anh bất diệt."
Mỗi dòng chữ ấy là một cuộc đời chưa kịp gọi tên.
Là một người mẹ vẫn chờ con.
Là một người vợ vẫn giữ nguyên lời hẹn ngày tiễn chồng ra trận.
Là những đứa con lớn lên mà chưa một lần biết cha mình đang nằm nơi đâu.
Tôi nhìn những hàng mộ trải dài trong nắng rồi chợt nhớ đến bà ngoại.
Nhớ đến câu chuyện mà suốt tuổi thơ mình tôi đã nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần.
Một câu chuyện bắt đầu từ xóm 2, xã Xuân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Ông ngoại tôi - Nguyễn Đình Tiềm - và bà ngoại tôi - Phan Thị Nhi - đều sinh ra trong một gia đình thuần nông. Cuộc sống của ông bà giản dị như bao người dân quê xứ Nghệ khác: sáng ra đồng, chiều về bên bếp lửa, mong một vụ mùa đủ đầy và một mái ấm yên vui.
Nhưng đất nước khi ấy chưa thật sự bình yên.
Sau ngày Việt Nam thống nhất, cách mạng Lào vẫn cần sự giúp đỡ của những người bạn thủy chung. Với tinh thần quốc tế cao cả, biết bao người lính Việt Nam tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Triệu Voi.
Ông ngoại tôi cũng khoác ba lô ra đi.
Ngày chia tay, bà ngoại không khóc.
Bà chỉ lặng lẽ sửa lại cổ áo quân phục cho chồng rồi dặn một câu rất khẽ:
"Anh đi mạnh giỏi. Mẹ con tui đợi."
Đó là lời hứa giản dị nhất.
Nhưng cũng là lời hẹn dài nhất cuộc đời bà.
Ở chiến trường Việt - Lào, ông cùng đồng đội chiến đấu không chỉ để bảo vệ thành quả cách mạng của nước bạn, mà còn gìn giữ tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào. Những cánh rừng Trường Sơn hùng vĩ, những bản làng heo hút nơi đất bạn đã chứng kiến biết bao người lính Việt Nam sẵn sàng hy sinh vì một nghĩa tình quốc tế trong sáng.
Còn ở quê nhà, bà bước vào cuộc chiến không tiếng súng.
Một mình chăm sóc cha mẹ già.
Một mình nuôi con.
Một mình chờ đợi.
Rồi năm 1979, ông ngoại tôi hy sinh.
Nhưng chiến tranh chưa buông tha những người ở lại.
Không ai báo tin.
Không một lá thư.
Không một dòng tin.
Suốt ba năm trời, bà vẫn tin chồng còn sống.
Mỗi lần có người lính trở về làng, bà lại chạy đến hỏi.
Mỗi lần bưu tá ghé qua, bà lại thấp thỏm chờ đợi.
Chiếc hòm gỗ đựng quân phục của ông vẫn được bà lau chùi cẩn thận như thể chỉ ngày mai thôi, ông sẽ trở về mở nắp hòm lấy bộ quần áo ấy mặc vào.
Cho đến năm 1982...
Tờ giấy báo tử được trao tận tay.
Ba năm hy vọng khép lại chỉ trong vài dòng chữ.
Người đàn ông bà chờ đợi suốt ngần ấy thời gian đã nằm lại nơi chiến trường từ lâu.
Ngày ấy, cậu đầu của tôi vừa tròn tám tuổi.
Mẹ tôi mới lên bốn.
Còn dì út vẫn còn nằm trong bụng mẹ.
Dì lớn lên chưa từng được một lần gọi tiếng "cha".
Người ta thường nói người lính hy sinh ngoài mặt trận là mất mát lớn nhất của chiến tranh.
Nhưng tôi nghĩ, chiến tranh còn để lại một sự hy sinh khác.
Đó là những người phụ nữ ở hậu phương.
Bà ngoại tôi quyết định không đi thêm bước nữa.
Một mình bà nuôi ba người con khôn lớn.
Ban ngày ra đồng.
Ban đêm vá áo.
Hết mùa lúa lại đi cấy thuê.
Hết vụ khoai lại làm thuê kiếm gạo.
Có những bữa cơm chỉ có rau và muối.
Bà vẫn bảo các con ăn trước.
Còn mình lặng lẽ vét phần cơm cháy còn sót dưới đáy nồi.
Quần áo bà vá chằng vá đụp.
Nhưng con của bà chưa bao giờ phải nghỉ học vì thiếu tiền.
Điều bà giữ gìn suốt cuộc đời không chỉ là mái nhà, mà còn là hình ảnh người cha trong lòng các con.
Bà chưa bao giờ kể về ông bằng nước mắt.
Bà kể bằng niềm tự hào.
Rằng cha các con là người lính đã ngã xuống vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Vì tình nghĩa Việt Nam - Lào.
Vì hòa bình hôm nay.
Bây giờ, mỗi lần đến Nghĩa trang Liệt sĩ Việt - Lào, tôi luôn dành nhiều thời gian đi dọc những hàng mộ vô danh.
Tôi tự hỏi, liệu có người mẹ nào vẫn còn ngóng con?
Có người vợ nào vẫn chưa thôi hy vọng?
Có đứa con nào đến hôm nay vẫn chưa biết cha mình nằm ở đâu?
Ông ngoại tôi may mắn hơn rất nhiều đồng đội.
Gia đình còn có thể đến bên ông mỗi dịp tháng Bảy.
Còn có thể thắp cho ông một nén hương.
Còn có thể gọi đúng tên ông.
Còn biết bao đồng đội của ông vẫn đang nằm lại dưới những tấm bia chỉ khắc một dòng chữ:
"Chưa biết tên anh, nhưng chiến công của anh bất diệt."
Họ có thể chưa tìm được tên.
Nhưng Tổ quốc chưa bao giờ quên họ.
Rời nghĩa trang, tôi ngoái nhìn những hàng mộ trắng dần khuất sau màu xanh của núi rừng Anh Sơn.
Tôi chợt hiểu rằng, "Một thời hoa lửa" không chỉ là những năm tháng bom đạn.
Đó còn là tuổi xuân của những người lính gửi lại nơi chiến trường vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Là cả cuộc đời của những người vợ như bà ngoại tôi - Phan Thị Nhi - âm thầm ở vậy nuôi con, gìn giữ mái ấm và giữ trọn lời hẹn với người chồng đã mãi mãi không trở về.
Chiến tranh đã lùi xa.
Nhưng mỗi nén hương thắp lên ở Nghĩa trang Liệt sĩ Việt - Lào vẫn nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng hòa bình không tự nhiên mà có.
Nó được đánh đổi bằng máu của những người lính, bằng nước mắt của những người mẹ, bằng sự thủy chung của những người vợ và bằng cả tuổi thơ thiếu vắng tình cha của biết bao đứa trẻ.
Và tôi tin rằng, chừng nào những người như ông ngoại tôi còn được nhắc tên, chừng nào những người vợ như bà ngoại tôi còn được kể lại bằng tất cả sự biết ơn và trân trọng, thì một thời hoa lửa ấy sẽ mãi không bao giờ bị lãng quên.



