NỮ ANH HÙNG ĐOÀN THỊ NGHIỆP – TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC VÀ SỰ HY SINH CAO CẢ
Đoàn Thị Nghiệp, sinh năm 1925 tại xã Hội Cư, huỵên Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Khi lập gia đình, bà về quê chồng tại xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Chồng bà là ông Bùi Văn Thô, sinh năm 1924, quê Bình Thạnh- Bình Phú -Cai Lậy -Tiền Giang, nguyên là trung tá quân đội nhân dân Việt Nam. Bà có hai người con là Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn, cả 2 đều đã hy sinh
Nhắc đến Đoàn Thị Nghiệp là nhắc đến một biểu tượng của sự tận hiến đến hơi thở cuối cùng. Người phụ nữ ấy đã hiến dâng cho Tổ quốc không chỉ tuổi xuân, hạnh phúc gia đình mà cả dòng máu nóng của chính mình. Đỉnh cao của khí phách ấy khắc họa rõ nét vào ngày định mệnh 22/4/1972, khi bà chỉ huy một lực lượng mỏng manh đương đầu với hai tiểu đoàn địch trùng điệp. Dù bị thương nặng, sa vào tay giặc và chịu đựng những đòn tra tấn tàn khốc nhất, người nữ Tỉnh đội phó vẫn giữ chặt đôi môi, bảo vệ bí mật cách mạng bằng cái chết hóa thành bất tử, để lại cho đời sau tấm gương sáng ngời của người cộng sản kiên trung.
Thân thế, sự nghiệp và những bước chân đầu tiên trên con đường cách mạng
Đoàn Thị Nghiệp, sinh năm 1925 tại xã Hội Cư, huỵên Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Khi lập gia đình, bà về quê chồng tại xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Chồng bà là ông Bùi Văn Thô, sinh năm 1924, quê Bình Thạnh- Bình Phú -Cai Lậy -Tiền Giang, nguyên là trung tá quân đội nhân dân Việt Nam. Bà có hai người con là Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn, cả 2 đều đã hy sinh. Năm 1946 bà tham gia cách mạng tại xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, làm công tác phụ nữ, lãnh đạo và vận động chị em tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương, như đóng góp lương thực, thực phẩm thuốc men cho bộ đội, đi dân công phục vụ chiến trường,... Sau năm 1954, bà vẫn tiếp tục bám trụ ở địa bàn công tác cũ, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị. Nhờ thành tích trong công tác, bà được bầu làm Huyện ủy viên huyện Cai Lậy.
Trong những năm 1959 - 1960, mặc dù phong trào cách mạng ở địa phương bị địch đánh phá ác liệt, nhưng bà vẫn kiên cường bám chặt địa bàn cơ sở và cùng Huyện ủy ra sức củng cố xây dựng các chi bộ Đảng, phát động phong trào quần chúng và tổ chức lực lượng vũ trang của huyện. Sau đó, do yêu cầu của tổ chức bà được điều sang An Giang công tác.
Từ nỗi đau riêng đến lời thề cứu nước
Sinh ra tại vùng đất Cái Bè giàu truyền thống, nhưng cuộc đời bà Đoàn Thị Nghiệp (má Nghiệp) lại gắn liền với những mất mát xé lòng mà chiến tranh mang lại. Người ta thường nói, nỗi đau lớn nhất của người phụ nữ là mất chồng, mất con. Má Nghiệp đã chịu đựng tất cả nỗi đau ấy. Chồng má - Trung tá Bùi Văn Thô, cùng hai người con trai yêu quý là Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn đều đã ngã xuống vì độc lập tự do.
Nhưng nước mắt không làm người đàn bà ấy gục ngã, nó tôi luyện bà thành thép. Từ một cán bộ phụ nữ xã, bà bước ra chiến trường với lời thề: “Giặc còn thì tôi còn đánh”. Hình ảnh người phụ nữ vừa lo toan việc nhà, vừa vận động chị em tiếp tế lương thực, vừa trực tiếp cầm súng đã trở thành biểu tượng của người phụ nữ Nam Bộ: Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang.
Nữ tướng của “Vành đai diệt Mỹ”
Những năm 1967 - 1968, khi Mỹ dựng lên căn cứ Đồng Tâm và biến vùng Bình Đức thành “túi bom”, má Nghiệp đã có mặt ở đó, ngay tại nơi đầu sóng ngọn gió. Không chỉ là một chiến sĩ, bà là một nhà chỉ huy tài ba với cương vị Tỉnh đội phó Mỹ Tho, một chức vụ hiếm có đối với phụ nữ thời bấy giờ. Tại đây, bà đã lập kế hoạch bắt sống được một sĩ quan Mỹ. Đồng thời, bà còn tham gia nhiều trận đánh vào căn cứ Đồng Tâm do sư đoàn 9 Mỹ chiếm đóng. Năm 1968, bà được phân công phụ trách mảng 4 Cai Lậy Bắc. Thực hiện nghiêm túc và sáng tạo chủ trương “Bám trụ đánh địch” của Tỉnh Đội, bà đã thành lập “Mặt trận chống phá bình định”, mà lực lượng chủ yếu là các cơ quan của Tỉnh Đội và du kích các xã trong khu vực, nhằm kiên quyết bẻ gãy các cuộc hành quân càn quét của địch, giữ vững địa bàn đứng chân.
Trận đánh cuối cùng và khí tiết người cộng sản
Câu chuyện bi tráng nhất về má Nghiệp diễn ra vào tháng 4 năm 1972, địch huy động hai tiểu đoàn đánh phá ác liệt vào cơ quan Huyện đội Cai Lậy Bắc đóng ở xã Phú Nhuận (Cai Lậy). Lúc này, do các đơn vị điều đi tác chiến ở các chiến trường trong tỉnh, nên tại cơ quan Tỉnh Đội chỉ còn 5 chiến sĩ và 8 du kích xã. Với cương vị là Tỉnh Đội phó, bà đã nhanh chóng tổ chức chỉ huy chiến đấu, ỷ vào quân đông, địch liên tục mở nhiều đợt đột kích, nhưng điều bị quân ta đánh bật ra.
Đến 12 giờ trưa ngày 22-4-1972, địch mới tiến vào vòng ngoài khu căn cứ. Lúc bấy giờ bà bị thương nặng và sa vào tay địch. Biết bà giữ chức vụ quan trọng của Tỉnh Đội Mỹ Tho, địch vừa mua chuộc, dụ dỗ, vừa tra tấn dã man nhằm buộc bà phải đầu hàng nhưng bà đã không chịu khuất phục và anh dũng hy sinh sinh lúc 22 giờ ngày 22-4-1972 tức nhằm ngày mùng 9-3-1972 âm lịch.
Vinh danh và Tưởng niệm
Bà được Nhà nước tặng thưởng hai Huân chương chiến sỹ vẻ vang, ba Huân chương giải phóng hạng I, II, III, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Tên bà được đặt tên trường Trung học cơ sở của xã Bình Phú (huyện Cai Lậy), trường Tiểu học ở xã Mỹ Hội (huyện Cái Bè), tên đường trung tâm huyện lỵ Cai Lậy và TP. Mỹ Tho.
Khắc ghi “Thời hoa lửa” và lời hứa của tương lai
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng câu chuyện về má Đoàn Thị Nghiệp vẫn sống mãi trong lòng nhân dân. Sự hy sinh của má-một người vợ mất chồng, một người mẹ mất đi cả hai đứa con và cuối cùng hiến dâng cả mạng sống mình cho đất nước là cái giá vô cùng tận của hai chữ “Hòa bình”. Má chính là hiện thân của rặng trâm bầu Nam Bộ: dẫu bão táp mưa sa, dẫu đạn bom cày xới, vẫn kiên cường bám rễ sâu vào lòng đất mẹ, chở che cho quê hương đến hơi thở cuối cùng. Xin được kính cẩn nghiêng mình trước công ơn của má. Thế hệ chúng con hôm nay nguyện khắc ghi “thời hoa lửa” ấy vào tim, lấy khí tiết của má làm kim chỉ nam để sống, để cống hiến và để xứng đáng với những gì má đã đánh đổi bằng cả máu xương.


