Nữ thanh niên xung phong người Lự và những tháng ngày không thể nào quên
Trong hành trình tìm gặp những cựu Thanh niên xung phong trên địa bàn tỉnh Lai Châu, tôi có dịp được trò chuyện với bà Tao Thị Sỏ, sinh năm 1953, dân tộc Lự, hiện đang sinh sống tại xã Bản Hon, tỉnh Lai Châu. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, bà vẫn nhớ rất rõ ngày mình khoác lên màu áo Thanh niên xung phong – một dấu mốc mà bà coi là niềm tự hào lớn nhất của tuổi trẻ.
Trong hành trình tìm gặp những cựu Thanh niên xung phong trên địa bàn tỉnh Lai Châu, tôi có dịp được trò chuyện với bà Tao Thị Sỏ, sinh năm 1953, dân tộc Lự, hiện đang sinh sống tại xã Bản Hon, tỉnh Lai Châu. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, bà vẫn nhớ rất rõ ngày mình khoác lên màu áo Thanh niên xung phong – một dấu mốc mà bà coi là niềm tự hào lớn nhất của tuổi trẻ.
Bà kể, ngày 08 tháng 4 năm 1967, khi mới mười bốn tuổi, bà cùng nhiều thanh niên trong vùng tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong và được biên chế vào Đội C3, Sìn Hồ. Đối với cô gái người Lự khi ấy, lần đầu tiên rời bản làng để đến một môi trường hoàn toàn mới là điều vừa háo hức, vừa bỡ ngỡ. Xa gia đình, xa cha mẹ, mọi việc đều phải tự lập, nhưng ai cũng động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.
Theo lời bà, những tháng ngày ở Đội C3 tuy không dài, chỉ từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1967, nhưng đã để lại những kỷ niệm không thể nào quên. Các đội viên Thanh niên xung phong được giao tham gia lao động, mở đường, vận chuyển vật liệu và thực hiện nhiều công việc phục vụ xây dựng các công trình tại địa phương. Công việc diễn ra chủ yếu ở vùng núi cao, đường đi cheo leo, nhiều đoạn chỉ vừa đủ một người bước. Mỗi ngày, mọi người đều phải gùi dụng cụ lao động, cuốc, xẻng và vật liệu băng qua những con dốc dài để đến nơi làm việc.
Bà nhớ nhất những buổi sáng sớm khi sương còn phủ kín núi rừng, cả đơn vị đã tập hợp để nhận nhiệm vụ. Đến chiều muộn mới trở về lán nghỉ, ai cũng mệt nhoài nhưng vẫn động viên nhau bằng những câu chuyện vui, những bài hát quen thuộc. Cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, bữa cơm chỉ có gạo độn với rau rừng, nhưng không ai nghĩ đến việc bỏ cuộc. Ai cũng mang trong mình niềm tin rằng những con đường được mở hôm nay sẽ giúp bản làng phát triển, giúp người dân đi lại thuận lợi hơn.
Điều khiến tôi ấn tượng khi nghe bà kể là sự trưởng thành của một cô gái dân tộc Lự mới mười bốn tuổi. Chính những tháng ngày trong lực lượng Thanh niên xung phong đã giúp bà rèn luyện tính tự lập, ý chí vượt khó và tinh thần kỷ luật. Bà nói rằng, nếu không có khoảng thời gian ấy, có lẽ bà sẽ không đủ bản lĩnh để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống sau này.
Nhắc về tuổi trẻ của mình, bà không kể nhiều về những vất vả mà luôn nở nụ cười hiền hậu. Bà cho rằng được đứng trong hàng ngũ Thanh niên xung phong, được góp sức nhỏ bé cho quê hương ngay từ khi còn rất trẻ là điều mà bà luôn tự hào. Đó là ký ức đẹp, theo bà suốt cả cuộc đời.
Trước khi chia tay, bà Tao Thị Sỏ gửi gắm tới thế hệ trẻ hôm nay rằng: "Các cháu bây giờ có điều kiện học tập và cuộc sống tốt hơn rất nhiều. Hãy biết quý trọng những gì mình đang có, cố gắng học tập, chăm chỉ lao động và yêu thương quê hương. Dù làm công việc gì cũng phải có trách nhiệm, biết đoàn kết và giúp đỡ mọi người. Đó là điều mà thế hệ chúng tôi luôn mong muốn gửi lại cho các cháu."
Rời ngôi nhà nhỏ của bà Tao Thị Sỏ, tôi cảm nhận rõ rằng những ký ức về lực lượng Thanh niên xung phong không chỉ được viết nên bằng những năm tháng dài hay những chiến công lớn, mà còn được lưu giữ trong câu chuyện bình dị của những con người đã sớm cống hiến tuổi trẻ cho quê hương. Chính những đóng góp thầm lặng ấy đã góp phần làm nên truyền thống tốt đẹp của lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam và trở thành nguồn động lực để thế hệ hôm nay tiếp tục gìn giữ, phát huy.


