Nữ thanh niên xung phong và ký ức không phai (1)
Nữ thanh niên xung phong và ký ức không phai
1 mẹ vn anh hùng: Nguyễn Thị Truyện
Bá Mạnh - Nguyễn Hạnh •Chiến tranh đã lùi vào quá khứ, một quá khứ đau thương nhưng rất đỗi tự hào đối với dân tộc Việt Nam. Để có được thành công ấy, biết bao người mẹ đã phải nén đau thương, động viên đưa tiễn chồng, con lên đường làm nhiệm vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc. Trong không khí cả nước đang hướng tới kỷ niệm 76 năm ngày thương binh, liệt sỹ, chúng tôi tìm về bên các Mẹ Việt Nam Anh hùng để được nghe kể về những chuyện đã qua. Lòng biết ơn sâu sắc xen lẫn sự cảm phục khiến chúng tôi càng thêm tự hào về các mẹ. Trong cái nắng dịu nhẹ sau mưa bất chợt của ngày hè tháng 7, chúng tôi đến thăm Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Truyện ở xóm 1, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Mẹ Truyện năm nay đã 101 tuổi, đôi mắt đã mờ, trí nhớ giảm hẳn, mẹ không còn nghe được rõ, chuyện ngày trước có đoạn nhớ đoạn quên, nhưng chắp nối câu chuyện, chúng tôi phần nào hiểu được mẹ muốn nói gì. Cả cuộc đời mẹ gắn với sự nghiệp cách mạng của quê hương, đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mẹ động viên các con lên đường nhập ngũ. Năm 1965, người con trai cả của mẹ là Nguyễn Văn Nguyệt tình nguyện nhập ngũ vào chiến trường miền Nam, kháng chiến chống Mỹ. Tiếp bước truyền thống của cha và anh trai, người con trai thứ 3 trong gia đình mẹ là Nguyễn Văn Vương cũng tình nguyện tham gia chiến trường miền Nam lúc tròn 17 tuổi. Thế rồi chỉ trong vòng gần 2 năm từ 1970 đến 1972, mẹ nhận liên tục giấy báo tử của 2 người con trai. Còn nổi đau nào lớn hơn thế, mẹ nuốt vào trong những giọt nước mắt nghẹn ngào. Đến bây giờ khi Đất nước đã được bình yên, nhưng mẹ Truyện vẫn đau đáu nỗi đau khi liệt sĩ Nguyễn Văn Vương vẫn chưa tìm thấy phần mộ. Nhắc đến các anh, mẹ Truyện rất đỗi tự hào, rưng rưng xúc động: Các con của mẹ đã hy sinh vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khi mới tuổi đôi mươi. Tuy các anh không ở bên chăm sóc mẹ, nhưng mẹ vẫn luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chia sẻ, thăm hỏi thường xuyên của bà con lối xóm, của thế hệ trẻ hôm nay đó là niềm vui lớn nhất với mẹ. Với những cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, năm 2014, mẹ Nguyễn Thị Truyện được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Đây là nguồn động viên, an ủi to lớn để mẹ tiếp tục sống vui, khỏe trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Chia tay Mẹ Truyện, chúng tôi tiếp tục đến thăm Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Cháu. Mẹ năm nay 92 tuổi, mẹ có 7 người con, trong đó, 2 người con trai đầu là liệt sĩ Hoàng Văn Xoan, Hoàng Trung Tính, cùng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại chiến trường Quảng Trị và chiến trường Lào năm 1972. Thực hiện công tác “Đền ơn đáp nghĩa”, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, Báo Nghệ An đã nhận phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Cháu trong nhiều năm qua. Mẹ luôn động viên các con, cháu phải biết vươn lên trong cuộc sống và không được quên công ơn của những người đã hy sinh máu xương của mình cho độc lập dân tộc. “Mẹ biết, trên đất nước ta có hàng nghìn người phải gánh chịu những mất mát, đau thương như mẹ và hơn mẹ. Nên dẫu khuyết thiếu, đau thương và buồn tủi nhưng mẹ cũng rất đỗi tự hào về những đóng góp của các con mẹ cho đất nước”, mẹ Cháu tâm sự. Trên dải đất thân thương hình chữ S, còn biết bao Mẹ Việt Nam Anh hùng trung hậu, tảo tần, lặng thầm với nỗi đau mất chồng, mất con nơi chiến trường để góp nên những trang sử hào hùng, chói lọi của dân tộc. Riêng tại huyện Hưng Nguyên (Nghệ An) có 136 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hiện 3 mẹ còn sống. Để bù đắp những đau thương mất mát giúp các Mẹ Việt Nam Anh hùng có cuộc sống tốt hơn, ngoài thực hiện đầy đủ các chế độ ưu đãi của Nhà nước, nhiều năm qua các cấp, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội đã chăm sóc, phụng dưỡng các Mẹ bằng những hành động cụ thể, thiết thực. Từ phong trào như xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa, hay xây dựng nhà tình nghĩa, trao sổ tiết kiệm, đăng ký chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đã khẳng định truyền thống Uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Sự cống hiến của các mẹ là niềm tự hào, là biểu hiện cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tài sản tinh thần vô giá, trường tồn cùng quê hương, dân tộc. Chiến tranh đã lùi xa nhưng trong giọng nói, ánh mắt của những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng chúng tôi đã gặp vẫn vẹn nguyên ngọn lửa nhiệt tình cách mạng, vẫn trọn vẹn một niềm tin vào lý tưởng mà mình và chồng con đã chọn, cùng bao kỳ vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Thiết thực kỷ niệm 76 năm ngày thương binh - liệt sỹ, mỗi người dân Hưng Nguyên nói riêng, người dân cả nước nói chung đều tỏ lòng biết ơn, tri ân sâu sắc đến các Mẹ Việt Nam Anh hùng. Cảm ơn các Mẹ đã sinh ra những người con ưu tú, xả thân quên mình để bảo vệ non sông Đất nước. Sự hi sinh của các mẹ, các Anh mãi là bài học quý giá nhắc nhở thế hệ trẻ ngày hôm nay phát huy, trân trọng và tự hào.2. Thân Nhân liệt sĩ Trần CanAnh hùng, liệt sĩ Trần Can là 1 trong 4 anh hùng, liệt sĩ tiêu biểu trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Trần Can). Trong 4 anh hùng, liệt sĩ nói trên, mỗi người đóng góp công lao và tỏa sáng theo một cách khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau. Nếu như Tô Vĩnh Diện đã không tiếc thân mình để cứu pháo khi chiến dịch còn chưa bắt đầu, Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng để chặn địch từ Lai Châu về tăng cường cho Điện Biên Phủ thì Phan Đình Giót và Trần Can là những chiến sĩ thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, thể hiện khí chất anh hùng ngay trong những trận đánh ác liệt, tất cả vì mục tiêu đánh chiếm các cứ điểm của địch tại Điện Biên Phủ. Phan Đình Giót ở Tiểu đoàn 428, người đã khiến hỏa điểm của địch trong lô cốt phải câm họng, tạo cơ hội cho đồng đội xung phong đánh chiếm Cứ điểm Him Lam và hy sinh đúng ngày mở màn chiến dịch 13-3-1954 thì Trần Can ở Tiểu đoàn 130 chính là người cắm lá cờ Quyết chiến - Quyết thắng mà Bác Hồ trao cho các chiến sĩ Điện Biên Phủ khi ra trận lên nóc lô cốt chỉ huy cứ điểm Him Lam, đánh dấu chiến thắng đầu tiên của quân ta; anh cũng là người hy sinh trong ngày cuối cùng của chiến dịch (ngày 7-5-1954), ngay trước giây phút khải hoàn. Bài 1: Người đi trọn một vòng chiến dịch Tỏa sáng ngay từ trận mở màn, được vinh danh như một biểu tượng với lá cờ Quyết chiến - Quyết thắng cắm trên Cứ điểm Him Lam và ngã xuống trong giây phút chạm vào chiến thắng, có thể nói, Trần Can là anh hùng, liệt sĩ đặc biệt, người đã đi hết một vòng chiến dịch đặc biệt, đem lại chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Tiểu đội trưởng tiêu biểu trước chiến dịch Từ mảnh đất Sơn Thành, Yên Thành, Nghệ An, nhập ngũ năm 1951 vào Đại đoàn 312, Trần Can đã thể hiện sự dũng cảm trong chiến đấu. Năm 1952, anh tham gia Chiến dịch Tây Bắc trong đội hình của Trung đoàn 209. Trong trận đánh địch ở Bản Hoa, Trần Can làm nhiệm vụ xung kích và đã dùng thủ pháo diệt ụ súng địch để đơn vị tiến công. Khi tiểu đội bị thương vong nhiều, anh đã hiệp đồng với các đồng đội ở tiểu đội khác và dẫn đầu tổ diệt 3 ụ súng của địch, đánh thẳng vào sở chỉ huy, bắt sống 22 tên địch, thu 17 súng các loại. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Trần Can trở thành một trong những tiểu đội trưởng xuất sắc của Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Cuối năm 1953, để chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, đơn vị Trần Can được giao nhiệm vụ mở đường kéo pháo vào trận địa, sau đó đơn vị lại trực tiếp tham gia kéo pháo. Ban đầu, ta chủ trương “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, theo kế hoạch, Đại đoàn 312 sẽ phối hợp với một đại đội sơn pháo 75mm, một đại đội cối 120mm, một đại đội cối 82mm để tiêu diệt Đồi Độc Lập, Bản Kéo, Kang Na. Trung đoàn 209 có nhiệm vụ đánh vào Đông Nam sân bay, đồng thời phát triển một mũi vào trung tâm phối hợp với Trung đoàn 165 đánh chiếm cứ điểm Độc Lập. Ngày 17-1-1954, Trung đoàn 209 bắt đầu tổ chức kéo pháo từ Tuần Giáo vào trận địa. Mỗi khẩu pháo sử dụng khoảng một đại đội, từ 120 đến 150 người kéo, tùy theo địa hình. Việc kéo pháo của bộ đội ta qua những đèo, núi vô cùng khó khăn, gian khổ, trong khi máy bay địch liên tục thả bom trên các tuyến đường nhằm ngăn chặn quân ta, cắt đứt giao thông, gây cháy nổ, đứt dây tời pháo... Sau 10 ngày đêm, Trung đoàn kéo được 12 khẩu pháo vào trận địa bàn giao cho đơn vị bạn. Thế nhưng, ngày 27-1-1954, chấp hành chủ trương chuyển phương án “đánh chắc, tiến chắc” của Bộ chỉ huy Chiến dịch, Trung đoàn 209 lại tổ chức cho các đơn vị kéo pháo ra. Ngoài 12 khẩu pháo kéo vào, Trung đoàn 209 còn nhận thêm 3 khẩu từ đơn vị bạn. Lúc này xảy ra tình huống, 5 khẩu pháo do Tiểu đoàn 130 của Trần Can kéo đang nằm ở lưng chừng dốc gần triền cỏ gianh thì máy bay địch phát hiện, chúng ném bom napalm làm cỏ cháy đỏ rực, trong khi đó, đại bác địch bắn chặn đường rút. Tiểu đội trưởng Trần Can dẫn đầu trung đội xông ra kéo pháo. Thấy vậy, nhiều đồng chí khác cũng xông ra hỗ trợ. Bình thường một khẩu pháo 40 người kéo còn khó khăn, nhưng trong lúc nguy nan, chỉ 30 người cũng kéo được pháo vượt dốc an toàn, cứu pháo xong, nhiều đồng chí bật cả móng chân, móng tay. Khi kéo được pháo ra lại điểm tập kết tại Tuần Giáo, Trung đoàn 209 có 25 đồng chí hy sinh, 95 đồng chí bị thương. Ở đơn vị tiên phong có truyền thống về nghệ thuật đánh giặc công kiên và sự táo bạo dũng cảm, Trần Can và những người lính Trung đoàn 209 đã phát huy tốt truyền thống của đơn vị, sẵn sàng bước vào chiến dịch lớn. Lúc này anh là tiểu đội trưởng, thuộc Đại đội 366, là đại đội chủ công của Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Do thành tích kéo pháo, Đại đội 366 đã được Tổng tư lệnh Chiến dịch Võ Nguyên Giáp tặng Huân chương Chiến công hạng Ba. Chiến đấu dũng cảm - cắm cờ trên đỉnh Him Lam Trong trận đánh cứ điểm Him Lam, Tiểu đoàn 130 của Trần Can được tăng cường cối 82mm và súng ĐKZ có nhiệm vụ đánh chiếm mỏm 3, sẵn sàng tăng cường chi viện cho Trung đoàn 141 đánh mỏm 1 và 2. 17 giờ ngày 13-3, pháo binh ta bắn dồn dập vào Him Lam, sau 30 phút, pháo chuyển làn bắn vào sâu phía trong, trên các hướng bộ binh, ta dùng bộc phá áp sát các cửa mở đánh hàng rào xung phong chiến đấu. Sau 7 phút, Tiểu đoàn 130 đã mở xong cửa mở, Đại đội 366 của Trần Can xung phong đánh chiếm tiền duyên, hai mũi xung kích vượt qua cửa mở phát triển lên mỏm 3. Đến 18 giờ 30 phút, ta đã chiếm được một nửa mỏm 3 nhưng mũi chủ yếu bị địch ở lô cốt số 6 bắn chặn quyết liệt không phát triển được.3. Anh hùng LLVTND Đoàn Sinh HưởngSinh ra ở vùng phên giậu Móng Cái, chàng trai Đoàn Sinh Hưởng lên đường nhập ngũ ở tuổi 17, bắt đầu hành trình từ một binh nhì thành vị tướng lĩnh. Trải qua những năm tháng chiến trường khốc liệt, ông để lại dấu ấn đậm nét với những trận đánh để đời như Buôn Ma Thuột, Cầu Bông - trở thành Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) khi mới 26 tuổi. Cuộc đời ông là câu chuyện về tinh thần người lính Vùng mỏ kiên cường, gan dạ và đầy nghĩa tình. Người con vùng biên và biệt danh “con sóc Tây Nguyên” Sinh năm 1949 tại xã Bình Ngọc, thị xã Móng Cái (nay là phường Móng Cái 1) - mảnh đất đầu sóng ngọn gió, nơi sông Ka Long hòa vào biển cả, Đoàn Sinh Hưởng lớn lên trong một gia đình coi trọng nghĩa tình và gốc gác quê hương. Từ nhỏ, ông đã được cha mẹ dạy phải biết thương người, giữ lời hứa và sống chan hòa với mọi người xung quanh. Trước ngày con trai lên đường nhập ngũ, người cha chỉ dặn một câu ngắn gọn nhưng thấm thía: “Dù sau này làm chỉ huy, con vẫn phải thương anh em như ruột thịt”. Lời dặn ấy tưởng như giản đơn, nhưng với Đoàn Sinh Hưởng lại trở thành điều ông luôn tự nhắc mình trong suốt những năm tháng quân ngũ, nhất là mỗi khi phải đưa ra quyết định giữa gian khó. Năm 1966, khi chiến tranh đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, cậu thanh niên chỉ cao chưa đầy 1,5m, nặng vỏn vẹn 48kg ấy vẫn xung phong lên đường nhập ngũ, để lại sau lưng mái đình Trà Cổ rêu phong và tiếng sóng biển quê nhà. Ngày tiễn con ra trận, cha ông trao lại chiếc khăn tay do mẹ tự tay may, căn dặn: “Đi đâu, nhớ mình là người đất mỏ". Chiếc khăn ấy theo ông suốt những năm tháng chiến trường, như một lời nhắc nhở về gốc gác và tình nhà, để giữa những giờ phút sinh tử, ông luôn nhớ mình còn có quê hương và những người đang chờ đợi. Ngay khi nhập ngũ, ông được biên chế vào Đại đoàn 308 - Đại đoàn quân Tiên phong, nổi tiếng với kỷ luật sắt và những cuộc hành quân dài ngày. Cuộc hành quân đầu tiên từ Trà Cổ về Phú Thọ là phép thử khắc nghiệt. Hàng trăm cây số băng rừng, vượt đèo Họa My, lội suối Lục Ngạn, đêm xuống lại mắc võng trong rừng, sương lạnh thấm da, chân phồng rộp vì giày sũng nước. Khẩu phần chỉ là nắm cơm nhỏ với ít muối vừng, nhiều tân binh kiệt sức phải dừng lại trạm quân y. Riêng Đoàn Sinh Hưởng nhỏ người nhưng bền bỉ vẫn kiên nhẫn bước tiếp, có khi còn cõng thêm ba lô của đồng đội yếu hơn mà không một lời than vãn. Những ngày đó, ông thấm thía một điều giản dị: “Một người khỏe không đủ, phải khỏe cùng nhau mới đi hết con đường”. Chính tinh thần sẻ chia và gan dạ ấy giúp ông sớm được bầu làm tiểu đội trưởng, dù tuổi đời còn rất trẻ. Trong bữa cơm vội bên bìa rừng, ông thường nhường miếng cơm còn nguyên cho lính trẻ, mình ăn phần cháy. Đêm trực chiến lạnh buốt, ông đắp thêm áo cho đồng đội bị sốt rét, rồi tự mình trở về chỗ nằm trên nền đất ẩm, nhắm mắt nghỉ chốc lát để sáng hôm sau tiếp tục hành quân. Năm 1968, tại Khe Sanh nơi được mệnh danh “Điện Biên Phủ thứ hai”, Đoàn Sinh Hưởng được kết nạp Đảng ngay trên chiến hào, ở tuổi 19. Trận đánh ác liệt, tiếng bom pháo không ngớt, đất rung chuyển dưới chân. Trong khói súng, ông vẫn dẫn tiểu đội giữ vững trận địa, cứu thương đồng đội và chỉ huy phản công. Sau trận, ông được phong “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Thế nhưng, với ông niềm tự hào ấy luôn đi kèm nỗi day dứt, vì ngay bên cạnh có người đồng đội đã ngã xuống, chỉ kịp nhìn ông lần cuối để rồi mãi mãi nằm lại nơi rừng núi Tây Nguyên. Sau Khe Sanh, khi chuyển vào chiến trường Tây Nguyên, Đoàn Sinh Hưởng càng thể hiện rõ bản lĩnh của một người chỉ huy trẻ. Vóc dáng nhỏ bé nhưng lại nhanh nhẹn và gan dạ, ông thường xung phong đi đầu mở đường, luồn qua những con dốc dựng đứng, men theo suối để đưa xe tăng vào vị trí tập kết. Từ đó, đồng đội đặt cho ông biệt danh “con sóc Tây Nguyên” vừa để trêu, vừa để khâm phục. Biệt danh ấy càng trở nên đặc biệt sau một trận đánh ác liệt, ông bị lạc giữa rừng ba ngày, hết lương khô, hết nước, phải nhai lá rừng cầm hơi. Anh em trong đơn vị lo sợ đã báo tử. Nhưng đến ngày thứ tư, “con sóc rừng” trở về, gầy rộc, tóc bết đất đỏ, nhưng mắt vẫn sáng và nụ cười vẫn vẹn nguyên. Không chỉ là biệt danh, hình ảnh người chỉ huy nhỏ người nhưng bền bỉ, dẫn quân xuyên đêm qua dốc cao, miệng vẫn động viên lính trẻ: “Cố lên, còn chút nữa thôi”, đã trở thành ký ức không phai của bao người lính năm ấy. Một đồng đội từng kể: “Nhỏ người mà gan to, leo dốc nhanh như sóc, cứ thấy chỗ hiểm là anh ấy xung phong trước”.4.Anh hùng Lao động Lê Văn Kiểm“Chúng tôi luôn tâm niệm, còn sức khoẻ đến đâu là còn lao động đến đó. Vì ơn nghĩa với đất nước, với cuộc đời này, chúng tôi sẽ phấn đấu không ngừng nghỉ và cống hiến hết mình” - AHLĐ Lê Văn Kiểm chia sẻ. Anh hùng Lao động (AHLĐ) Lê Văn Kiểm sinh năm 1945, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng tại Thừa Thiên- Huế. Năm ông 4 tuổi, cha ông hy sinh. Nỗi mất mát lớn lao ấy được bù đắp phần nào bởi tình yêu thương của mẹ và những người đồng đội của bậc sinh thành. Năm 1954, hoà bình được lập lại ở miền Bắc. Lê Văn Kiểm (khi đó 9 tuổi) là một trong hơn 30.000 con em cán bộ được Đảng, Nhà nước đưa ra học tập tại miền Bắc. Anh hùng Lao động Lê Văn Kiểm. Dẫu thiệt thòi vì gia đình nhỏ không được đủ đầy nhưng ông Kiểm luôn cảm thấy may mắn và biết ơn vì được lớn lên nhờ cơm ăn, áo mặc, học hành của Nhà nước, sự đùm bọc, chở che của nhân dân miền Bắc mà ông luôn coi như quê hương thứ 2 của mình. Điều đó đã nuôi dưỡng trong ông sự biết ơn sâu sắc và nhắc nhớ mình càng phải phấn đấu để có một ngày trả lại ân tình to lớn này. Năm 1971, tình hình chiến trận ngày càng trở nên cam go, ác liệt. Ông Kiểm một lòng sục sôi muốn tham gia chiến đấu nên đã chích máu của mình viết đơn xin đi bộ đội rồi lại xung phong vào chiến trường miền Nam đỏ lửa. “Ở thế hệ chúng tôi, việc viết thư bằng máu không có gì to tát cả. Đó là cách chúng tôi thể hiện khao khát và quyết tâm được bảo vệ đất nước, vì hoà bình dân tộc” - ông Kiểm chia sẻ. Sau rất nhiều khó khăn, cuối cùng đơn thư bằng máu của ông cũng được chấp thuận. Đầu năm 1975, ông Lê Văn Kiểm được lựa chọn vào đoàn công tác đặc biệt có nhiệm vụ vạch tuyến, khảo sát, mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Để rồi, vào ngày 30/4/1975 lịch sử, cũng là kỷ niệm 5 năm ngày cưới của hai vợ chồng, ông Lê Văn Kiểm đã cùng đồng đội, cùng non sông đất nước vỡ oà trong niềm vui hoà bình, thống nhất. Hoà bình lập lại nhưng giặc đói, giặc nghèo vẫn hoành hành khắp chốn. Ông Kiểm bấy giờ cũng gác lại súng, đạn chiến trường để cùng vợ con bắt tay tham chiến vào một mặt trận khác - “mặt trận” kinh tế. Quyết định bán đi chiếc xe máy là tài sản lớn nhất của gia đình để làm vốn liếng khởi nghiệp, ông bà mua một chiếc mô tơ để xay trộn thức ăn chăn nuôi. Cứ thế, ban ngày ông bà vẫn đi làm việc nhà nước, đêm về lại chong đèn để sản xuất, kinh doanh. Giờ đây, sau rất nhiều khó khăn, thăng trầm, tập đoàn kinh doanh đa ngành của ông bà ngày một lớn mạnh. Trả nghĩa non sông “Hai trách nhiệm lớn nhất của một cựu chiến binh là xây dựng, phát triển đất nước và giúp đỡ cộng đồng, xã hội. Với vợ chồng tôi, trách nhiệm đầu là áp lực nhưng trách nhiệm thứ hai lại là niềm vui” - ông Kiểm nói. Sinh ra từ trong gian khó, giữa bối cảnh đất nước chiến tranh, hơn ai hết, ông Kiểm và vợ mình - bà Trần Cẩm Nhung hiểu sâu sắc cái nghèo, cái khổ. Lớn lên nhờ nghĩa tình của đất nước, nhân dân, ông bà lại càng canh cánh nỗi niềm được cho đi, được san sẻ với những mảnh đời khốn khó, thiệt thòi. Bên cạnh việc thành lập và điều hành các quỹ từ thiện, quỹ khuyến học của cá nhân gia đình, vợ chồng ông bà cũng luôn góp mặt trong các dự án thiện nguyện do Đảng, Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ phát động. Có thể kể đến một số quỹ từ thiện tiêu biểu như: Quỹ khuyến học cho con cháu cựu chiến binh Việt Nam, Quỹ học bổng “Trần Cẩm Nhung - Chắp cánh ước mơ”, Chương trình “sữa học đường”, Quỹ Vietnam Health Fund của tỷ phú Bill Gates nhằm giúp đỡ, chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo Việt Nam... Trong đó, tri ân đồng đội, đền ơn đáp nghĩa những gia đình có công với cách mạng là những hoạt động thiện nguyện mà vợ chồng ông Lê Văn Kiểm luôn đặc biệt quan tâm. Là một trong những cựu chiến binh nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của ông Lê Văn Kiểm, nữ anh hùng LLVTND Hồ Kan Lịch xúc động chia sẻ: "Ngày trước tôi khó khăn, nghèo đói lắm. Đi dự Đại hội thi đua yêu nước trong TP.HCM, thấy cơm nước trong đó còn thừa nên phơi khô lên đem về Huế. Anh thấy thế anh thương. Biết tôi không có nhà, anh gửi cho tôi 200 triệu xây nhà. Sau tôi đau ốm, anh lại gửi tôi 150 triệu nữa. Tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình anh Kiểm, chị Nhung. Nhờ anh chị mà tôi có nhà, đời sống của tôi nay ổn rồi” - bà Lịch chia sẻ. Ghi nhận cống hiến và đóng góp của ông và gia đình, ông Lê Văn Kiểm 2 lần được phong tặng danh hiệu anh hùng lao động vào năm 2008 và 2020. Đặc biệt, ở lần phong tặng thứ 2, niềm vui của ông như càng nhân đôi thêm vì vợ ông, bà Trần Cẩm Nhung cũng cùng được phong tặng danh hiệu cao quý này.5. Cựu chiến binh Nguyễn Xuân LiêmNhững câu chuyện về chiến công của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Xuân Liêm luôn là nguồn động viên to lớn cho người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ.Trong những trang sử hào hùng của dân tộc, chiến thắng mùa Xuân năm 1975 mãi mãi là một mốc son chói lọi. Góp phần trong chiến thắng vĩ đại ấy, có những người con ưu tú của quê lúa Thái Bình.Một trong số đó là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Xuân Liêm, người trực tiếp tham gia và chỉ huy xe 3 xe tăng (363, 948 và 944) đánh trận mở màn cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng thị xã Phước Long.Ông Nguyễn Xuân Liêm (sinh năm 1946, quê quán thôn An Liêm, xã Thăng Long, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) là một người lính xe tăng dũng cảm. Ông nhập ngũ năm 1965, ở Tiểu đoàn 53A Tỉnh đội Thái Bình.Tháng 5/1972, ông chuyển sang Binh chủng Tăng thiết giáp.Năm nay đã 79 với thương tật 4/4 nhưng ký ức về những trận chiến năm xưa, đặc biệt là trận đánh thị xã Phước Long, vẫn luôn vẹn nguyên trong tâm trí ông.Ông Nguyễn Xuân Liêm nhớ lại ngày 2/1/1975, đơn vị của ông nhận lệnh phối hợp với Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 142, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4 tấn công thị xã Phước Long. Hướng tấn công được xác định là “cửa mở” ngã ba Tư Hiền-trại Lê Lợi, trực diện vào trung tâm thị xã Phước Long.Tại đây, quân ta vấp phải sự kháng cự quyết liệt của địch. Hỏa lực mạnh của đối phương gây nhiều khó khăn cho lực lượng của ta. Trong tình thế ác liệt, mũi tấn công của ta gồm 3 xe tăng, nhưng một xe hết đạn phải lùi lại phía sau, một xe bị kẹt pháo, chỉ còn lại xe tăng 363 do Chính trị viên Đại đội Nguyễn Xuân Liêm trực tiếp chỉ huy, với số đạn dược ít ỏi.Trước tình hình đó, người chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Xuân Liêm đã đưa ra một quyết định táo bạo và thể hiện tinh thần tiến công mãnh liệt: “Còn người, còn xe, một xe cũng tấn công!." Chiếc xe tăng 363 tiếp tục lao thẳng vào trung tâm thị xã với tinh thần “một mất một còn."Trong trận đánh, kíp xe của ông Liêm đã phối hợp nhịp nhàng, dũng cảm. Khi bị địch bao vây, ông Liêm bình tĩnh chỉ huy lái xe đánh trả, gây rối loạn đội hình địch. Hành động dũng cảm và mưu trí của ông và đồng đội đã góp phần quan trọng vào chiến thắng trận Phước Long, mở màn cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.Chiến thắng Phước Long có ý nghĩa chiến lược to lớn, tạo tiền đề quan trọng cho các chiến dịch tiếp theo, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.Chiến thắng này cũng cho thấy sự suy yếu của quân đội Việt Nam Cộng hòa và khả năng tiến công mạnh mẽ của quân Giải phóng. Chiến thắng này cũng giúp Bộ Chính trị có thêm cơ sở để đánh giá chính xác sự thay đổi về tương quan lực lượng giữa ta và địch, từ đó đi đến quyết định lịch sử là giải phóng miền Nam.Sau trận chiến Phước Long, ông Liêm còn tham gia nhiều trận khác như: trận Xuân Lộc, đánh sân bay Biên Hòa… Với những công lao to lớn, năm 1976, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.Sau nhiều năm quân ngũ, năm 1987, Thiếu tá Nguyễn Xuân Liêm về nghỉ hưu. Trở về quê hương, ông tiếp tục tham gia Hội Cựu chiến binh tỉnh Thái Bình và cống hiến cho xã hội. Ông là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, dũng cảm và ý chí kiên cường, truyền cảm hứng cho các thế hệ sau.6. người có công giúp đỡ cách mạng: Hồ MơChuyện những người có công với NướcNDĐT – Một người phụ nữ là thương binh nặng hằng ngày đi bán vé số dành dụm tiền xây mộ cho đồng đội, một người Anh hùng trong một làng anh hùng, một người thương binh cụt chân làm kinh tế giỏi rồi bỏ ra hầu hết số tiền của mình để cứu giúp bà con…, đó là những câu chuyện cảm động trong vô vàn những câu chuyện mà những con người bình dị mang đến Hội nghị Biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng và Báo Nhân Dân phối hợp tổ chức.Diễn ra ngày hôm qua, 7-7, tại TP Đà Nẵng, hội nghị đã họp mặt gần 400 vị đại biểu. Nhiều câu chuyện được nghe kể thật bất ngờ và xúc động. Chuyện một thiếu nhi 15 tuổi tự mổ bụng để phản đối chế độ nhà tù hà khắc, chuyện người tham gia kháng chiến từ năm 13 tuổi, chiến đấu hàng trăm trận, bắt sống hàng ngàn tên địch. Hay chuyện những thương binh, bệnh binh trở về sau chiến tranh, quyết tâm theo lời dạy của Bác Hồ, “tàn nhưng không phế”, vượt qua khó khăn làm kinh tế, giúp mình giúp đồng đội thoát nghèo và tiếp tục cống hiến cho xã hội. Trong chiến tranh, họ là những tấm gương hy sinh vì đất nước, trong cuộc sống đời thường hôm nay, họ vẫn tiếp tục nêu gương sáng để thế hệ sau suy ngẫm và học tập.Người thương binh cụt chân tự tay đào đắp 3 km đườngĐây không phải là lần đầu tiên ông Hồ Mơ, 74 tuổi, ở thôn Prin C, xã À Dơi, huyện Hương Hóa, tỉnh Quảng Trị được đi dự hội nghị, mà ông đã đi khắp trong nam ngoài bắc, đi bao nhiêu lần cũng không nhớ nữa. Lần này, trong 10 người tiêu biểu của cả huyện Hương Hóa, người ta cũng chỉ chọn mỗi mình ông đi dự.Tôi nhìn thấy ông mặc chiếc áo thổ cẩm, dáng người nhỏ thó, chân khập khiễng, đi rất nhanh dọc hành lang của hội trường. Ông Hồ Mơ kể, ông đi bộ đội từ năm 1956, qua rất nhiều đơn vị và cuối cùng là tiểu đoàn trưởng K2 chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị. Tiểu đoàn của ông hồi đó trăm trận trăm thắng, vì ông đã đưa ra kỷ luật “sắt” không cho phép ai rút quân khi chưa có lệnh ông, nếu không sẽ bị bắn. Tất cả mọi người đều răm rắp tuân theo. Có trận, tiểu đoàn của ông đánh thắng ba tiểu đoàn địch, rồi rút lui đúng lúc, trước khi địch dùng máy bay oanh tạc vùng đất đó đến không còn một cọng cây ngọn cỏ, vì chúng nghĩ chắc phải cả sư đoàn đang đóng quân ở đó.Vào năm 1969, ông đã bị thương trong một trận đánh vì vướng vào mìn. Ông kể, ông vẫn rất tỉnh táo khi cả chân phải đã dập nát, và ra lệnh cho đồng đội rút quân vì biết còn rất nhiều mìn chưa nổ.Từ đó, ông được chuyển ra bắc để điều trị vết thương. Khi chân phải bị cưa, mất cả năm trời ông mới tập đi được trên cái chân giả, đau đến nước mắt và mồ hôi cùng túa ra. Giờ thì cái chân ông đã ổn lắm rồi, ông nhanh nhẹn đến mức không ai biết ông đang phải đi lại trên cái chân giả.Năm 1980, ông nghỉ hưu, về làm chủ tịch xã À Dơi hai năm, rồi nhận cai quản 54 ha rừng ở đồi Phù Nhoi. Hồi đó, xã của ông còn chưa có đường, một mình ông, với cái chân giả, đã dùng cuốc, xẻng đào đắp được hơn ba cây số đường trong hai tháng. Cứ buổi sáng, ông lại đeo bên mình ống nước, ống cơm, dao rựa đi làm đường cả ngày. Một mình ông vật lộn với rừng rú, cuối cùng cũng đã làm được con đường ô tô có thể đi lên được. Nhờ có con đường ấy, bà con dân bản mới đi lại để trồng trọt, kiếm ăn, họ biết ơn ông lắm. Cũng nhờ con đường ấy, ông khai phá được hơn 3 ha ruộng, và trồng bời lời, cao su trên rừng.Thấy con đường đất mình làm cho bà con thỉnh thoảng lại bị sạt lở, mà sức người không còn đủ để lăn ra đào đắp, ông mua cho thằng con trai một cái xe ủi, lúc đường sạt lở là lái xe ra ủi lại, nên dù mùa mưa hay nắng, đường bao giờ cũng thông.Ông kể giờ đây ông có 15 con trâu, 30 con bò, 15 con dê và trên dưới 100 con ngan, vịt. Mỗi năm, tổng thu nhập của ông phải lên đến 400 triệu đồng, nhưng ông chỉ giữ lại 50 triệu, còn 350 triệu ông mang ra cứu đói cho bà con, mua trâu bò lợn gà cho họ nuôi đề thoát nghèo...Ông bảo, được đi dự hội nghị như thế này là vinh dự lớn. Khi trở về, ông phải có trách nhiệm báo cáo ở tỉnh, rồi báo cáo về huyện, về xã rằng ông đã được đi dự hội nghị người có công như thế nào, ông sẽ kể Chủ tịch nước đã nói gì, và Nhà nước ta đã đền ơn đáp nghĩa những người có công như ông ra sao.7 . ANH HÙNG LLVTND Trần Văn LaiChuyện về một người Anh hùng biệt động Sài GònNDĐT - Giữa những ngày tháng 4 lịch sử, lần tìm những tư liệu, hình ảnh thời khói lửa, đạn bom, thời của non sông chưa liền một dải, bất chợt hiện lên những trang viết đơn sơ, giản dị khắc ghi về chân dung một người con Thái Bình đã lặng thầm hy sinh tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc mà chưa nhiều người biết đến.Nếu có dịp ghé thăm Bảo tàng tỉnh Thái Bình, khách thăm quan sẽ thấy ở căn phòng chính giữa trưng bày một chiếc xe ô-tô bốn chỗ màu trắng, biển số EL-6899. Đây là kỷ vật của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Trần Văn Lai (1920-2002) sử dụng khi hoạt động trong nội thành Sài Gòn - Gia Định những năm 1963-1968.Đồng chí Trần Văn Lai (tự Mai Hồng Quế, bí danh Năm U.Som) là cán bộ cấp Tiểu đoàn, C trưởng biệt động, thuộc Đơn vị 159 biệt động Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, sinh ra tại xã Vũ Đông (TP Thái Bình). Nhiệm vụ được trên giao thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là hoạt động trong lòng địch, được Bộ Chỉ huy Quân khu cài vào các cơ quan đầu não của địch như: Dinh Độc Lập (Phủ Đầu Rồng), cơ quan viện trợ U.S.O.M của Mỹ, Tòa Đại sứ Mỹ… Bên cạnh đó, tổ chức xây dựng các cơ sở cách mạng, vận động quần chúng tham gia ủng hộ cách mạng. Trinh sát các mục tiêu theo nghề nghiệp, báo cáo thường xuyên về Bộ Chỉ huy Quân khu các tin tức, tài liệu, tình hình của địch...Theo lệnh của đồng chí Tư lệnh Trần Hải Phụng, Anh hùng LLVTND, Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Trần Văn Lai phải thực hiện “ba hóa”, đó là nghề nghiệp hóa, quần chúng hóa và hợp pháp hóa (có đầy đủ những giấy tờ của địch) nhằm trinh sát các mục tiêu theo nghề nghiệp, báo cáo thường xuyên về Quân khu các tin tức, tài liệu, tình hình của địch và tạo điều kiện cho các cán bộ của ta ra vào kiểm tra, trú ém và hoạt động an toàn tại nội thành Sài Gòn. Đóng vai nhà thầu khoán trong Dinh Độc Lập (Phủ Đầu Rồng), dùng tên giao dịch là Mai Hồng Quế, đồng thời được tổ chức sắp xếp vào làm việc tại cơ quan viện trợ hậu cần (U.S.O.M) của Mỹ, tại đây Trần Văn Lai thu thập được bản đồ, họa tiết thiết kế xây dựng các công trình cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn phục vụ yêu cầu hoạt động của biệt động Sài Gòn. Thời điểm này, bản đồ toàn bộ hệ thống đường cống ngầm của TP Sài Gòn được Trần Văn Lai lấy và cắt thành nhiều mảnh nhỏ, đánh ký hiệu thứ tự, rồi ngụy trang lại, bọc dưới đệm xe và bánh xe sơ cua ô-tô, dùng xe danh nghĩa nhà thầu khoán của Dinh Độc Lập vận chuyển đưa ra cho các đồng chí ở Quân khu tuyệt đối an toàn. Việc lấy được bản đồ cống ngầm Sài Gòn giúp quân ta luồn lách, trú ẩn và đánh địch. Từ những trận đánh trước Tết Mậu Thân 1968 tới năm 1975, quân ta cũng dùng hệ thống bản đồ này mà chúng không hề phát hiện ra.Từ năm 1962, tổ chức yêu cầu cần một địa điểm thuận lợi để ém quân, cất giấu vũ khí, chuẩn bị tiến công vào cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn, đồng chí Trần Văn Lai đã chủ động bán hai tòa biệt thự ở Phú Nhuận để mua liền ba căn nhà mặt phố đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 5, quận 3. Tại đây, ông một mình đào và xây dựng hầm bí mật, vận chuyển hàng chục tấn đất đá ra khỏi hầm mà địch không hề hay biết. Sau đó, tự lái ba chuyến ô-tô chở vũ khí về hầm, âm thầm cất giấu hơn 2,5 tấn vũ khí tuyệt đối an toàn phục vụ cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 đánh Dinh Độc Lập, tòa Đại sứ Mỹ, Đài phát thanh, Bộ Tư lệnh Hải quân… Năm 1966, tổ chức lại chỉ đạo Trần Văn Lai tìm gấp căn nhà số 42/82 Nguyễn Văn Thành, Bà Chiểu (nay là Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh) xây dựng một hầm nổi làm căn cứ mật dự bị cho Sở Chỉ huy Tết Mậu Thân 1968. Sau Tết Mậu Thân, địch phát hiện ra địa điểm xuất quân của lực lượng biệt động, đồng chí Trần Văn Lai bị lộ. Lúc này, chính quyền Việt Nam cộng hòa truy bắt gắt gao và treo thưởng hai triệu đồng cho cái đầu của nhà tư sản Mai Hồng Quế. Phần lớn tài sản bị địch tịch thu, ông được lệnh lánh về quê vợ ở Quảng Ngãi tiếp tục hoạt động.8. Mẹ Việt Nam Anh hùng Trương Thị Tư“Nước mắt mẹ không còn vì khóc những đứa con/ Lần lượt ra đi, đi mãi mãi...”. Những ca từ da diết trong bài hát “Người mẹ của tôi” của cố nhạc sĩ Xuân Hồng vẫn luôn khiến lòng người bồi hồi mỗi khi vang lên.Đó không chỉ là giai điệu, mà là bản hùng ca về những người Mẹ Việt Nam Anh hùng. Trong những tượng đài sống ấy, mẹ Trương Thị Tư (xã Phú Hựu, tỉnh Đồng Tháp) là một biểu tượng của lòng kiên trung, bất khuất, người phụ nữ đã nén nỗi đau riêng, hiến dâng những gì quý giá nhất cho độc lập dân tộc.Người mẹ can trườngĐến ấp Phú Thạnh, xã Phú Hựu hỏi nhà mẹ Trương Thị Tư (tên thường gọi Tư Sang), bà con ở đây ai cũng tỏ tường, bởi công lao, sự cống hiến, hy sinh to lớn của mẹ và gia đình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong căn nhà ấm cúng treo 5 Bằng Tổ quốc ghi công và nhiều Huân, Huy chương cao quý cùng với đó là Danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng thể hiện sự tri ân, ghi nhớ công ơn của Đảng, Nhà nước đối với gia đình có công với cách mạng. Thắp nén hương trên bàn thờ gia tiên, ông Phạm Tấn Thành (67 tuổi) con út má Tư kể: “Ba má tôi có 10 người con. Ba tôi tham gia công an huyện, sau thoát ly công tác tại hậu cần tỉnh Vĩnh Long. Còn má tôi vừa tham gia các phong trào ở địa phương, vừa đào công sự quanh nhà nuôi chứa cán bộ bám trụ hoạt động. Biết ba tôi tham gia cách mạng nên địch treo thưởng lớn hòng bắt sống hoặc tiêu diệt”.Để chồng an tâm công tác, má Tư cần mẫn lo việc đồng áng, nuôi các con khôn lớn. Ông Thành cho hay: “Các anh chị tôi khoảng 15 - 16 tuổi, má đều cho đi kháng chiến với mong muốn sớm giải phóng quê hương, đất nước”. Được chi bộ giao phụ trách thu thuế, lúa gạo, đóng góp của nhân dân cho cách mạng, má kết nối với các cơ sở mật mua thuốc men, dụng cụ y tế, nilon, vải, nhất là chà gạo cung cấp cho cách mạng. Bọn mật thám nghi ngờ, theo dõi nhưng má luôn khôn khéo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.Bà Nguyễn Thị Pho, sinh năm 1958, ngụ ấp Phú Thạnh cho biết, lúc 14 tuổi bà thường theo má Tư đi xay gạo. Sau đó đi tiếp tế cho bộ đội, lúc thì gạo, khi là tiền, bà Thoa nhớ lại: “Má Tư thường dạy tôi bình tĩnh, ngụy trang khéo léo khi làm nhiệm vụ. Khoảng 10 ngày má Tư đi xay gạo một lần, bọn địch nghi ngờ kiểm tra, đe dọa, má bình tĩnh đáp trả tại nhà đông con nên xay nhiều gạo”.Còn ông Nguyễn Văn Tư, CCB xã Phú Hựu kể: “Vùng này trước đây địch đóng nhiều đồn bót, ta và địch bố trí xen kẽ, ngày địch, đêm ta. Chiến sự diễn ra ác liệt, cũng nhờ má Tư và nhân dân hết lòng đùm bọc, chở che, kịp thời cung cấp lương thực, thuốc men,… giúp chúng tôi bám cơ sở hoạt động đến ngày đất nước thống nhất”.Má Tư còn tích cực tham gia các phong trào do Hội Phụ nữ xã phát động như: Đấu tranh chống bắt lính, phá cầu đường,... Có lần má cùng chị em tham gia đấu tranh chính trị tại tỉnh Vĩnh Long bị địch bắt áp giải qua Cần Thơ. Tại đây, chúng dùng đủ chiêu trò từ dụ dỗ, mua chuộc đến uy hiếp, đánh đập. “Không khai thác được gì, địch vẽ lên nón lá cờ 3 sọc rồi thả về. Không nói một lời má và các chị đồng loạt ném bỏ. Địch cay cú, tiếp tục vẽ cờ trên lưng áo, má cùng các chị vứt áo, quyết không để chúng đắc chí”, ông Thành tự hào kể về ý chí sắt đá và nghị lực can trường của má.9.Cựu thanh niên xung phong Lê Thị KhảiNhắc đến bà Lê Thị Khải, sinh năm 1945, người dân xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội, ai nấy đều biết đến. Bà Khải được mệnh danh là người luôn hết mình với mọi phong trào của địa phương, được chính quyền và nhân dân vô cùng tin yêu, quý mến. Hiện nay, bà là Ủy viên Ban chấp hành Hội Cựu Thanh niên xung phong (TNXP) xã Hoàng Diệu và là Chi hội trưởng Chi hội TNXP thôn Bài Trượng, xã Hoàng Diệu.Ký ức một thờiTrong căn nhà nhỏ giữa làng quê yên bình, cựu thanh niên xung phong Lê Thị Khải kể lại những kỷ niệm hào hùng của tuổi trẻ. Ở tuổi xế chiều, giọng bà vẫn đầy nhiệt huyết khi nhắc về quãng thời gian xông pha trên mặt trận, như thể thời gian không làm phai mờ ký ức ấy. Bà Khải gia nhập lực lượng TNXP vào năm 1965, khi vừa bước sang tuổi 20. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bà và hàng vạn thanh niên cả nước đã lên đường, đóng góp sức mình vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.“Tôi được biên chế vào đơn vị N81 (Đội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước), nhiệm vụ của đơn vị là bảo đảm giao thông thông suốt từ Nam Định đến Thanh Hóa, đặc biệt là tuyến đường sắt nối giữa hai tỉnh, một phần quan trọng của tuyến đường sắt Bắc - Nam. Nhiệm vụ của chúng tôi là sửa chữa, đắp lại những đoạn đường bị hư hại và rà phá bom mìn, loại bỏ vật cản trên tuyến đường. Hằng ngày, chúng tôi lao động trong điều kiện khó khăn, bất chấp nắng mưa, để đảm bảo những chuyến tàu vẫn có thể lăn bánh an toàn. Mỗi chuyến tàu đi qua đều mang theo hy vọng, là biểu tượng cho sức mạnh và tinh thần đoàn kết của những người chiến sĩ TNXP”, bà Khải xúc động chia sẻ.Kỷ niệm mà bà nhớ mãi là khi mới tham gia lực lượng TNXP, tháng 7-1965, bà được cử đi về phía Nam lấy dụng cụ cho đơn vị. Khi đi đến nửa cầu Đò Lèn (tỉnh Thanh Hóa), một quả tên lửa bắn ngay xuống đầu cầu, mảnh tên lửa vỡ đã văng vào đầu của bà, khiến bà bị thương và được đồng đội đưa đến bệnh viện gần đó điều trị. Đến nay, vết sẹo trên đầu bà vẫn là dấu tích còn lại của thời kỳ gian khó ấy.Tháng 12-1969, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, cựu TNXP Lê Thị Khải xuất ngũ. Đêm trước khi chia tay đơn vị, bà đã sáng tác bài hát chèo "Sáng mãi tên anh" và thể hiện ca khúc này để gửi tặng những người đồng đội. “Câu ca uống nước nhớ nguồn/ Vin cây hái quả nhớ ơn người trồng/ Nay ơn Đảng vinh quang, Bác Hồ vĩ đại/ Nhớ ơn người Liệt sĩ, Thương binh/ Các chị, các anh vì nước quên mình/ Công đức ấy ngàn năm sáng mãi/ Từ thành thị đến nông thôn, nơi biên cương miền duyên hải/ Máu anh hùng còn thắm mãi non sông/ Treo tấm gương con cháu Lạc Long/ Tô trang sử chống ngoại xâm ngời sáng…”.Nghe xong ai cũng xúc động, không chỉ vì giai điệu sâu lắng, mộc mạc, mà còn bởi tình cảm chân thành, thiết tha của nữ TNXP Lê Thị Khải gửi gắm trong từng lời ca. Những năm tháng gian khó nơi chiến trường, tình đồng chí, đồng đội đã trở thành sợi dây gắn kết những người lính trẻ, giúp họ vượt qua mọi hiểm nguy, thiếu thốn. Giờ đây, khi phải chia xa, những ký ức ấy lại ùa về, đọng lại trong lòng mỗi người như một dấu ấn không phai mờ. Nhiều đồng đội đã không kìm nén được cảm xúc, những giọt nước mắt lăn dài trên gò má, vừa là niềm tự hào về những cống hiến của mình, vừa là nỗi tiếc thương cho những đồng chí đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.Bài hát “Sáng mãi tên anh” do bà Khải sáng tác không chỉ là lời tri ân sâu sắc đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là lời nhắn nhủ cho thế hệ trẻ hãy luôn ghi nhớ công lao của những người đi trước, tiếp bước họ để xây dựng và bảo vệ đất nước. Bài hát ấy, với những lời ca chứa chan cảm xúc, đã trở thành một biểu tượng của tinh thần TNXP, của lòng yêu nước và khát vọng hòa bình.



