Khác

NỮ TƯỚNG BÀ TRIỆU – QUẬT CƯỜNG CHỐNG BẮC THUỘC VÀ KHÁT VỌNG "CƯỠI CƠN GIÓ MẠNH"

Tác giả: Lê Vân Hà

Thanh Hóa18/08/2026xã Gia Lộc (Xã Gia Lộc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
NỮ TƯỚNG BÀ TRIỆU – QUẬT CƯỜNG CHỐNG BẮC THUỘC VÀ KHÁT VỌNG "CƯỠI CƠN GIÓ MẠNH"

Bà Triệu (226 – 248), tên thật là Triệu Thị Trinh (trong dân gian còn gọi là Triệu Trinh Nương hoặc Nhất Giáp Bột Đạt Đại Vương), sinh ra tại vùng núi Quan Yên, thuộc quân Cửu Chân (nay thuộc xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa). Bà là một trong những nữ anh hùng dân tộc kiệt xuất nhất của lịch sử Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc, thủ lĩnh kiệt xuất của cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm 248 chống lại ách đô hộ tàn bạo của nhà Đông Ngô (thời kỳ Tam Quốc ở Trung Quốc). Tên tuổi của bà gắn liền với khí tiết quật cường, tinh thần độc lập tự chủ và câu nói kiêu hãnh bất hủ trở thành biểu tượng sống động cho sức mạnh của phụ nữ Việt Nam qua muôn đời.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm đắm dưới gông cồng đô hộ khắc nghiệt của nhà Ngô, Triệu Thị Trinh từ nhỏ đã chứng kiến vô số cảnh tượng đau thương: nhân dân bị cướp đoạt sản vật, chịu thuế đinh thuế sản nặng nề, thanh niên bị bắt làm phu dịch và nô lệ. Sớm bộc lộ tính cách mạnh mẽ, lòng chí khí phi thường cùng võ nghệ cao cường, bà cùng người anh trai là Triệu Quốc Đạt – một hào trưởng uy tín trong vùng – bí mật tập hợp những thanh niên yêu nước, rèn luyện vũ khí, tích trữ lương thực và dựng căn cứ kháng chiến tại vùng núi Nưa (thuộc địa bàn huyện Triệu Sơn và Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa ngày nay).

Khí tiết bất khuất của Triệu Thị Trinh thể hiện rõ nét nhất qua cách bà phản ứng trước những quan niệm hẹp hòi của xã hội phong kiến đương thời. Khi có người khuyên bà nên lập gia đình, an phận thủ thường như bao người phụ nữ khác, bà đã dũng cảm đáp lại bằng một tuyên ngôn độc lập đầy khí phách, làm chấn động lòng người:“Tôi muốn cưỡi con gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình trường ở Biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.”

Năm Kỷ Tỵ (248), từ căn cứ núi Nưa, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chính thức bùng nổ dữ dội. Lực lượng nghĩa quân nhanh chóng tấn công, đánh chiếm các quận thành của quân Ngô ở quận Cửu Chân rồi lan rộng ra toàn bộ vùng Giao Châu. Hình ảnh vị nữ tướng tuổi mới đôi mươi mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi chiến hai ngà xông xáo trên khắp các trận địa đã trở thành niềm tự hào lớn lao của nhân dân và là nỗi kinh hoàng khiếp đảm đối với giặc đô hộ. Quân Ngô truyền tai nhau câu thơ đầy sợ hãi: "Hoành qua đương hổ dĩ / Đối diện bà Vương nan" (Múa giáo đánh hổ dễ / Đối mặt Bà Triệu thì khó sao bằng).

Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc khởi nghĩa, Vua Ngô Tôn Quyền hoảng hốt phải cử thứ sử Lục Tận (cháu của danh tướng Lục Tốn) – một kẻ xảo quyệt và dày dạn kinh nghiệm – đem 8.000 quân tinh nhuệ cùng nhiều hạm đội chiến thuyền sang đàn áp. Bên cạnh lực lượng quân sự mạnh, Lục Tận còn dùng chiêu trò mua n chuộc các hào trưởng địa phương, chia rẽ nội bộ nghĩa quân và phong quan tiến lộc để làm suy yếu sức phản kháng. Mặc dù chiến đấu vô cùng dũng cảm và ngoan cường trong nhiều tháng ròng, do sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, nghĩa quân dần bị cô lập.

Trong trận chiến sinh tử cuối cùng tại căn cứ núi Tùng (nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa), để giữ trọn khí tiết kiệt xuất, không rơi vào tay kẻ thù, Bà Triệu đã tuẫn tiết khi mới tròn 22 tuổi. Dù cuộc khởi nghĩa thất bại, tinh thần hy sinh oanh liệt của Bà Triệu đã để lại một dấu ấn son chói lọi, khẳng định sức sống dẻo dai và ý chí không gì lay chuyển nổi của dân tộc Việt Nam trên hành trình đấu tranh giành lại độc lập độc lập dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn