Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nữ tướng Nguyễn Thị Định

Nữ tướng Nguyễn Thị Định hiện lên là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam anh hùng, kiên cường và giàu lòng yêu nước. Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, bà luôn sát cánh cùng đồng đội, trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng. Ở bà không chỉ có bản lĩnh thép của một vị tướng mà còn có tấm lòng nhân hậu, gần gũi, luôn quan tâm đến chiến sĩ và nhân dân. Cuộc đời và sự nghiệp của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành biểu tượng sáng ngời về tinh thần bất khuất, ý chí quật c

Đà Nẵng24/12/2025Chi đoàn trường THCS Nguyễn Bá Phát (Phường Liên Chiểu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nữ tướng Nguyễn Thị Định

Nguyễn Thị Định, biệt danh Bích Vân, Ba Tấn, Ba Nhất và Ba Hận, là nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nguyễn Thị Định sinh ngày 15-3-1920, là con út của 10 anh em trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng giàu lòng yêu nước tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Lớn lên, Út Định trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Bà sinh ra trong một gia đình nông dân tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bắt đầu tham gia Cách mạng từ phong trào Đông Dương đại hội năm 1936, bà đảm nhận vai trò liên lạc, rải truyền đơn, và vận động bà con chống lại sự áp bức, bóc lột ở địa phương.

Nhưng trong cảnh nước mất nhà tan, vượt qua cuộc sống bình thường của một cô thôn nữ, Út Định sớm giác ngộ và lựa chọn con đường đi theo cách mạng đầy gian khổ, tham gia phong trào Đông Dương đại hội năm 1936. Tháng 10-1938, đồng chí được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Thời gian này, đồng chí xây dựng gia đình với đồng chí Nguyễn Văn Bích (Ba Bích) - Tỉnh ủy viên hoạt động công khai Hạnh phúc gia đình ngắn ngủi thì bi kịch ập đến: mới sinh con trai được ba ngày, ngày 4-10-1939, đồng chí Nguyễn Văn Bích bị mật thám bắt. Từ đó, bà chỉ được bồng con đến thăm chồng một lần duy nhất trước khi ông bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo. Năm 1940, Nguyễn Thị Định cùng đứa con mới bảy tháng tuổi tiếp tục bị bắt giam tại Khám Lá Bến Tre, và tại đây bà đau đớn nhận tin chồng đã hy sinh nơi lao tù Côn Đảo. Năm 1944, Nguyễn Thị Định nối lại liên lạc với Đảng. Trong khí thế sôi sục của Cách mạng Tháng Tám, người góa phụ 25 tuổi đã dẫn đầu hàng ngàn quần chúng nổi dậy giành chính quyền tại tỉnh lỵ Bến Tre. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, bà được bầu vào Ban Chấp hành Phụ nữ Cứu quốc tỉnh. Tháng 3-1946, bà được giao nhiệm vụ tham gia đoàn vượt biển từ Thạnh Phú ra miền Bắc báo cáo với Bác Hồ và Trung ương Đảng về tình hình chiến trường Nam Bộ, xin chi viện vũ khí; sau đó làm trưởng đoàn vận chuyển an toàn 12 tấn vũ khí từ Bắc vào Nam.

Trở lại Bến Tre, năm 1947, Nguyễn Thị Định được bầu vào Tỉnh ủy. Năm 1948, bà giữ chức Đoàn trưởng Phụ nữ Cứu quốc tỉnh, Ủy viên Mặt trận Liên Việt tỉnh. Trong giai đoạn khó khăn nhất năm 1951, bà được tăng cường làm Phó Bí thư rồi Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, có lúc phải rời địa bàn sang Trà Vinh, Vĩnh Long để tránh sự truy lùng của địch. Năm 1952, bà tiếp tục giữ cương vị Đoàn trưởng Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Bến Tre.

Sau Hiệp định Genève, Nguyễn Thị Định được chỉ định vào Thường vụ Tỉnh ủy và ở lại miền Nam hoạt động bí mật trong điều kiện vô cùng gian khổ, hiểm nguy. Chính bà là người đầu tiên gọi cuộc nổi dậy tại Bến Tre là “Đồng khởi” và trực tiếp chỉ đạo cuộc Đồng khởi đợt 1 nổ ra ngày 17-1-1960. Từ đây, “Đội quân tóc dài” ra đời cùng phương châm tiến công địch bằng “ba mũi giáp công” – chính trị, vũ trang và binh vận – trở thành cách đánh sáng tạo của chiến tranh nhân dân, lan rộng khắp miền Nam và góp phần làm nên thắng lợi hoàn toàn ngày 30-4-1975.

Trong giai đoạn 1965–1975, Nguyễn Thị Định có nhiều đóng góp to lớn vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1976, bà được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, đồng thời được bầu làm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Trải qua muôn vàn gian khổ, nhiều lần vào sinh ra tử, dù ở bất kỳ cương vị nào, Nguyễn Thị Định vẫn giữ trọn phẩm chất nhân ái, bao dung, sống chân thành, gần gũi với mọi người. Bà luôn chăm lo đời sống chiến sĩ, đồng chí, cảm thông sâu sắc với những mất mát, hy sinh của nhân dân, để lại hình ảnh cao đẹp của một nữ tướng anh hùng, giàu tình người, mãi được trân trọng và kính yêu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn