NỮ TƯỚNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH (1920 - 1992)
Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920, là em út trong số 10 anh em trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu nước tại làng Lương Hòa (nay là xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Lớn lên, Út Định trở thành một thiếu nữ xinh đẹp.
Nhưng trong cảnh nước mất nhà tan, vượt qua cuộc sống bình thường của một cô thôn nữ, Út Định sớm giác ngộ và lựa chọn con đường đi theo cách mạng đầy gian khổ, tham gia phong trào Đông Dương đại hội năm 1936. Hai năm sau, tháng 10/1938, bà được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trong thời gian này, Út Định xây dựng gia đình với Nguyễn Văn Bích (Ba Bích), một trong số các đồng chí cùng hoạt động. Từ đó, Nguyễn Thị Định thường được gọi là Ba Định, theo thứ của chồng.
Mới sinh con trai được 3 ngày, bọn mật thám đến bắt ông Bích. Từ khi chồng bị bắt, bà chỉ được bồng con đến nhà tù thăm ông có một lần thì ông Bích bị Pháp đày đi Côn Đảo. Năm 1943, bà và đứa con mới 7 tháng tuổi lại bị mật thám vây bắt. Chúng đưa hai mẹ con về Khám Lá Bến Tre. Bà buộc phải gửi con về nhà, trước khi bị đày đến Bà Rá. Tại đây, bà nhận tin ông Ba Bích đã hy sinh ngoài Côn Đảo. Đau đớn tột cùng, bà vẫn nhớ lời chồng dặn dò: “Dấn thân vào con đường cách mạng là phải chịu gian khổ, hy sinh.” Nhờ lời dặn đó, bà có thêm nghị lực để đứng vững cho đến khi ra tù (năm 1943).
Năm 1944, Nguyễn Thị Định bắt liên lạc với Đảng. Trong khí thế hừng hực của Cách mạng tháng Tám, người góa phụ 25 tuổi đã dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tràn vào cướp chính quyền tại tỉnh lỵ Bến Tre. Khi Pháp trở lại đánh chiếm Nam Bộ, bà được bầu vào Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Tháng 4/1946, bà được cử tham gia đoàn vượt biển bằng thuyền từ quận Thạnh Phú ra miền Bắc báo cáo với Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam Bộ, đồng thời xin chi viện vũ khí đánh Pháp và sau đó làm trưởng đoàn vận chuyển 12 tấn vũ khí từ Bắc về Nam an toàn. Chuyến vượt biển lịch sử từ Nam ra Bắc đầu tiên này đã mở ra con đường huyền thoại: "Đường Hồ Chí Minh trên biển" cho cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.
Về lại Bến Tre, năm 1947, Nguyễn Thị Định được bầu vào Tỉnh ủy. Năm 1948, bà là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Ủy viên Mặt trận Liên Việt tỉnh. Năm 1951, thời điểm gian khó nhất của tỉnh, bà được tăng cường về làm Phó Bí thư rồi Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày, lãnh đạo khôi phục phong trào cách mạng trên địa bàn. Có thời điểm, bà phải rời địa bàn sang đứng chân trên đất Trà Vinh, Vĩnh Long để tránh sự ruồng bố của địch. Năm 1952, bà là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh Bến Tre.
Sau Hiệp định Genève, Nguyễn Thị Định được chỉ định vào Thường vụ Tỉnh ủy và được giao nhiệm vụ ở lại miền Nam hoạt động bí mật trong điều kiện cực kỳ khó khăn, gian khổ, nhiều lần vào sinh ra tử, nhưng nhờ sự yêu thương đùm bọc của nhân dân bà vẫn được an toàn. Cuối năm 1959, với cương vị là Phó Bí thư Tỉnh ủy, bà được cử đi tiếp thu Nghị quyết 15 và về Bến Tre đầu năm 1960, bà trực tiếp truyền đạt lại cho Tỉnh ủy. Chính Nguyễn Thị Định là người gọi cuộc nổi dậy khởi nghĩa tại Bến Tre bằng khái niệm “Đồng khởi” đầu tiên và là người trực tiếp chỉ đạo cuộc "Đồng khởi" đợt 1, nổ ra ngày 17/1/1960. Cũng từ đây, ra đời "Đội quân tóc dài" huyền thoại và phương châm tiến công địch bằng "ba mũi giáp công" - chính trị kết hợp với vũ trang và binh vận, cách đánh địch sáng tạo tuyệt vời của chiến tranh nhân dân, đã nhanh chóng lan ra toàn miền Nam, làm thất bại hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác của Mỹ - ngụy, đưa chúng đến sụp đổ hoàn toàn ngày 30/4/1975.
Sau cuộc Đồng khởi thắng lợi vang dội, tháng 5/1960, Nguyễn Thị Định được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 5/1961, bà là Khu ủy viên Khu 8, phụ trách dân vận kiêm Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Khu 8. Năm 1964, bà được bầu là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Năm 1965, tại Đại hội Phụ nữ toàn miền Nam, bà được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Cũng trong năm này, bà được giao nhiệm vụ Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia Quân ủy Miền, phụ trách phong trào chiến tranh du kích. Đến ngày 17/4/1974, Nguyễn Thị Định chính thức được phong quân hàm Thiếu tướng.
Từ năm 1965 đến 1975, bà đã có nhiều đóng góp vào thắng lợi chung của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà. Sự có mặt của bà trong Bộ Chỉ huy Miền đã góp phần làm cho cái nhìn của lãnh đạo, chỉ huy toàn diện, thấu đáo hơn trong lãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân. Mùa Xuân 1975, trong 5 cánh quân rầm rập tiến về giải phóng Sài Gòn, có nữ tướng Nguyễn Thị Định trong vai trò Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng.
Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1976, bà được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội, được bầu làm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), bà được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ đó, bà Nguyễn Thị Định giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy viên Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI; Đại biểu Quốc hội khóa VI, VII, VIII; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (đầu năm 1980). Từ tháng 6/1987 đến tháng 3/1992, bà giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Ngoài ra, thời gian này, bà còn giữ chức Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cuba.
Từ trong muôn vàn gian khổ, bao lần vào sinh ra tử, trải qua hai cuộc kháng chiến, cho đến khi giữ cương vị cao trong bộ máy nhà nước, bà Nguyễn Thị Định luôn giữ phẩm chất nhân ái, bao dung, sống chan hòa, gần gũi, chân tình với mọi người. Bà như một người chị, người cô, tận tụy chăm sóc từ cơm ăn, áo mặc cho các chiến sĩ, đồng chí, đồng đội; cảm thông sâu sắc những nỗi đau, mất mát và sự hy sinh cao cả của nhân dân, luôn chia sẻ một cách tinh tế và đầy tình cảm. Những lần về lại quê hương Bến Tre, bà đều dành thời gian gặp gỡ, ân cần thăm hỏi và giúp đỡ những anh chị em, bạn bè, đồng chí hoạt động kháng chiến cùng thời, cũng như nhân dân trên địa bàn căn cứ cách mạng từng đùm bọc cưu mang những người kháng chiến trong những năm chiến tranh gian khó. Có thể nói, cái tên chị Ba, cô Ba, bà Ba đã quen thuộc, thân thương, không chỉ sống mãi trong lòng nhân dân quê hương Bến Tre và cả nước, mà còn vượt ra xa, cả với bạn bè năm châu.
Bà mất ngày 26/8/1992. Với thành tích đóng góp cho Tổ quốc, cho nhân dân, bà được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý khác. Năm 1968, bà được nhận giải thưởng Hòa bình quốc tế Lênin. Ngày 30/8/1995, bà được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Lúc sinh thời, năm 1966, phát biểu tại Lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta."
Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, tỉnh Bến Tre đã lập Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa (Giồng Trôm), khánh thành vào ngày 20/12/2003. Bên cạnh đền thờ có trường trung học phổ thông mang tên Nguyễn Thị Định. Một con đường từ TP. Bến Tre về Giồng Trôm cũng được nhân dân đặt tên Nguyễn Thị Định. Nhân dân Hát Môn (Hà Nội), Phú Thọ, đã rước bát hương thờ bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng. Tên của bà cũng được đặt cho nhiều tuyến đường và trường học tại nhiều địa phương ở các tỉnh, thành phố trong cả nước.



