NỬA CHIẾC NHẪN ĐỒNG VÀ LỜI HẸN Ở GA LÀNG
Tháng Ba năm 1967, ga làng Gôi ngập trong sắc đỏ của hoa gạo và cái nắng hanh hao của những ngày đầu hạ. Tiếng còi tàu hỏa rít lên từng hồi dài giục giã, báo hiệu đoàn tàu chở quân Nam tiến sắp sửa chuyển bánh. Giữa đám đông ồn ã, náo nhiệt của những thanh niên lên đường nhập ngũ và người thân đến tiễn chân, Vinh và Hà đứng lặng lẽ bên một gốc cây gạo cổ thụ sát đường ray. Vinh khoác trên mình bộ quân phục màu xanh lá còn thơm mùi hồ, còn Hà mặc chiếc áo nâu sờn, mái tóc bện thành hai bím dài buông trước ngực.
Họ là bạn thanh mai trúc mã, yêu nhau từ những ngày cùng chăn trâu cắt cỏ trên đê. Trận chiến nổ ra, Vinh tình nguyện viết đơn bằng máu để được ra tiền tuyến. Trước giờ chia tay, Vinh lấy từ trong túi quần ra một kỷ vật đặc biệt. Đó là một chiếc nhẫn được anh tự tay cưa đúc từ vỏ quả đạn cao xạ nhặt được ngoài trận địa phòng không của xã. Chiếc nhẫn đồng vàng óng, mặt trên có khắc một hình trái tim nhỏ xíu thô sơ. Vinh dùng chiếc kìm nhỏ, dứt khoát bẻ chiếc nhẫn làm đôi trước sự ngỡ ngàng của Hà: — Hà cầm lấy một nửa này. Một nửa anh mang ra trận, một nửa em giữ ở quê nhà. Đợi ngày đất nước sạch bóng quân thù, anh trở về, chúng mình sẽ đem đúc hai nửa này lại thành một đôi nhẫn cưới vẹn tròn. Em đợi anh nhé!
Hà đón lấy nửa chiếc nhẫn đồng nhỏ xíu, các cạnh bẻ còn sắc nhọn đâm vào lòng bàn tay đau nhói, nhưng không đau bằng nỗi xót xa trong lòng. Cô áp nửa chiếc nhẫn vào ngực, gật đầu trong nước mắt: — Anh đi chân cứng đá mềm. Cho dù mười năm, hai mươi năm, em vẫn ôm nửa chiếc nhẫn này đợi anh về.
Đoàn tàu chuyển bánh rầm rập, Vinh nhảy lên toa tàu, nhoài người ra cửa sổ vẫy tay chào cho đến khi bóng áo nâu của Hà nhòe đi trong làn bụi đỏ của ga làng. Vinh vào chiến trường Trường Sơn, trở thành chiến sĩ lái xe tải của binh trạm 14. Suốt những năm tháng ôm vô lăng chạy qua các "tọa độ chết" như cua Chữ A, ngầm Ta Lê, nửa chiếc nhẫn đồng luôn được Vinh xỏ vào một sợi dây dù, đeo trang trọng trước ngực, ngay sát vị trí của trái tim. Mỗi lần xe đi qua mưa bom bão đạn, anh lại lấy tay chạm vào miếng đồng lạnh ngắt ấy để tìm thấy sự bình yên và sức mạnh để giữ vững tay lái qua những cung đường bờ vực.
Ở hậu phương, Hà trở thành đội trưởng đội nữ dân quân tự vệ của xã. Ban ngày cô cùng bà con cày ruộng, gặt lúa tiếp tế cho tiền tuyến, ban đêm lại vác súng trường đi tuần tra, trực chiến trên các mâm pháo phòng không. Nửa chiếc nhẫn đồng của Vinh được cô gói kỹ trong một mảnh vải nhung đỏ, luôn đặt dưới gối nằm mỗi đêm. Mỗi khi nghe tiếng loa phóng thanh thông báo về sự ác liệt của chiến trường miền Nam, tim Hà lại thắt lại, cô lại lấy kỷ vật ra ngắm nghía dưới ánh đèn dầu, thầm cầu nguyện cho người yêu tai qua nạn khỏi.
Năm 1975, tiếng súng lặng đi, đất nước hoàn toàn giải phóng. Ga làng Gôi lại rộn rã tiếng còi tàu đón những đoàn quân chiến thắng trở về. Hà, lúc này đã là một người phụ nữ gần ba mươi tuổi, nét xuân thì đã hằn lên những nếp nhăn nơi khóe mắt, chiều nào cũng ra ga tàu đứng đợi. Từng đoàn người bước xuống, tiếng cười nói, ôm chầm lấy nhau vang động cả sân ga, nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng Vinh đâu.
Cho đến một ngày cuối tháng Năm, một người cựu chiến binh cụt một chân, vai khoác chiếc ba lô bạc màu bước xuống tàu. Anh đi thẳng về phía Hà, đôi mắt đỏ hoe. Anh mở chiếc ví da cũ kỹ, lấy ra một sợi dây dù treo nửa chiếc nhẫn đồng đã xỉn màu vì thời gian và khói thuốc súng. Anh nghẹn ngào bảo: — Vinh là tiểu đội trưởng của tôi. Anh ấy hy sinh trong trận đánh cuối cùng ở cửa ngõ Sài Gòn vào ngày 29 tháng 4… Trước khi đi, anh ấy trao cái này cho tôi, nhờ tôi bằng mọi giá phải mang về ga làng Gôi trao lại cho cô gái tên Hà… Anh ấy bảo anh ấy lỗi hẹn rồi…
Hà đỡ lấy nửa chiếc nhẫn từ tay người thương binh. Cô mở chiếc túi nhỏ bên ngực áo, lấy ra nửa chiếc nhẫn còn lại mà mình đã giữ gìn suốt tám năm qua. Hai nửa chiếc nhẫn đồng ráp lại với nhau, vừa vặn khít khao, hiện rõ hình trái tim thô sơ ngày nào. Hà không khóc thành tiếng, cô quỳ sụp xuống nền đá sân ga, ôm chặt hai mảnh đồng vào lòng. Hoa gạo ngoài sân ga lại rụng đỏ rực như những đốm lửa, tiễn đưa một lời hẹn ước thanh xuân đã hóa thành bất tử cùng đất nước.



