Ở độ tuổi mà nhiều người đã yên bề gia thất, bác vẫn sẵn sàng rời quê hương, gác lại mái ấm gia đình để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.
Ở độ tuổi mà nhiều người đã yên bề gia thất, bác vẫn sẵn sàng rời quê hương, gác lại mái ấm gia đình để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.
Sinh năm 1932, lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong ách đô hộ, bác Hà Văn Cát sớm thấu hiểu nỗi đau mất nước và khát vọng độc lập, tự do. Trưởng thành qua nhiều biến động của lịch sử dân tộc, đến năm 1965 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt – bác quyết định lên đường nhập ngũ, khi đã ngoài ba mươi tuổi.
Ở độ tuổi mà nhiều người đã yên bề gia thất, bác vẫn sẵn sàng rời quê hương, gác lại mái ấm gia đình để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc. Quyết định ấy không chỉ thể hiện tinh thần trách nhiệm của một công dân, mà còn là bản lĩnh của một người đảng viên luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Những năm tháng trong quân ngũ là chuỗi ngày đầy gian lao, thử thách. Bom đạn khốc liệt, hành quân dài ngày, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn… nhưng người lính Hà Văn Cát luôn giữ vững tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường. Mang quân hàm U2, bác hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm kỷ luật, gương mẫu trong đơn vị, là chỗ dựa tinh thần cho đồng đội.
Là đảng viên trong môi trường quân đội, bác càng ý thức rõ trách nhiệm tiên phong, nêu gương. Dù ở bất cứ cương vị nào, bác cũng giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị và tinh thần đoàn kết. Với bác, điều thiêng liêng nhất trong những năm tháng “thời hoa lửa” không chỉ là chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, mà còn là tình đồng chí, đồng đội – thứ tình cảm được vun đắp giữa ranh giới sống – chết, giữa khói lửa chiến tranh.
Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, nhưng nhiệm vụ của người lính vẫn tiếp tục trong những năm đầu sau hòa bình. Đến năm 1977, sau 12 năm quân ngũ, bác xuất ngũ trở về quê hương.
Rời màu xanh áo lính, nhưng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn theo bác suốt cuộc đời. Trở về địa phương, bác tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, tích cực tham gia các phong trào, gương mẫu trong lao động và sinh hoạt, sống giản dị, nghĩa tình, được bà con tin yêu, kính trọng.
Nhìn lại chặng đường đã qua, 12 năm trong quân đội là quãng đời đáng tự hào – là thời thanh xuân đã được hiến dâng cho Tổ quốc. “Ký ức thời hoa lửa” của bác Hà Văn Cát là minh chứng sống động cho một thế hệ đã sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng vì độc lập, tự do của dân tộc.
Đó không chỉ là ký ức của một đời người, mà còn là biểu tượng của lòng trung thành, của trách nhiệm và niềm tin son sắt vào Đảng, vào tương lai của đất nước.



