Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Ông Lê Chí Quyết - Những ngày quân quản ở Buôn Ma Thuột

Lời kể/ký ức của ông Lê Chí Quyết, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Quân quản Buôn Ma Thuột/Đắk Lắk, về những ngày đầu sau chiến thắng Buôn Ma Thuột tháng 3 năm 1975, khi chính quyền cách mạng vừa tiếp quản thị xã đã phải khẩn trương ổn định đời sống, giữ gìn trật tự, mở kho lương thực cứu dân và gây dựng niềm tin cho nhân dân.

Đắk Lắk06/06/2026Chi đoàn 4 (Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong ký ức của ông Lê Chí Quyết, chiến thắng Buôn Ma Thuột tháng 3 năm 1975 không kết thúc khi tiếng súng ngừng lại. Với ông và những người trong Ủy ban Quân quản, một trận chiến khác bắt đầu ngay sau chiến thắng: trận chiến giữ ổn định thị xã, lo cái ăn cho dân, khôi phục điện nước, trấn an lòng người và dựng lên một trật tự mới giữa bao ngổn ngang của chiến tranh.

Ông Lê Chí Quyết tên khai sinh là Hồ Miên. Từ rất sớm, ông đã đi theo cách mạng. Tháng 1 năm 1947, ông tự nguyện nhập ngũ, rồi tham gia chiến đấu, gây dựng cơ sở chính trị ở Bắc Tây Nguyên. Những năm hoạt động bí mật, ông và đồng đội phải cải trang thành người mua bán, công nhân, dân thường để tiếp cận buôn làng, vận động đồng bào tin vào Đảng, vào Bác Hồ, đoàn kết nuôi giấu cán bộ, chống lại sự dụ dỗ và đàn áp của địch. Có thời gian, ông phải thay tên đổi họ nhiều lần để tránh bị truy lùng. Đến năm 1960, khi được điều động lên chiến trường Nam Tây Nguyên, ông chính thức mang tên Lê Chí Quyết, cái tên gắn với ông cho đến hôm nay.

Những năm tháng ấy làm ông hiểu rất sâu một điều: muốn cách mạng thắng ở Tây Nguyên, không thể chỉ dựa vào súng đạn. Phải có dân. Phải có buôn làng che chở. Phải có người đưa tin, người giấu gạo, người đào hầm, người dẫn đường, người giữ bí mật. Trong những buôn làng nhỏ bé giữa đại ngàn, có nơi chỉ vài chục nóc nhà dài, đồng bào vẫn kiên gan bám đất, chịu bom đạn, chịu đốt phá, nhưng không bỏ cán bộ. Chính niềm tin ấy sau này trở thành sức mạnh để Đắk Lắk đứng lên trong mùa xuân 1975.

Khi Buôn Ma Thuột được chọn làm trận then chốt mở màn Chiến dịch Tây Nguyên, công tác chuẩn bị không chỉ có quân sự. Song song với bộ đội chủ lực chuẩn bị đánh vào các mục tiêu của địch, Tỉnh ủy Đắk Lắk cũng chuẩn bị lực lượng tiếp quản. Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định thành lập Ủy ban Quân quản. Đại tá Y Blốk Êban làm Chủ tịch, ông Lê Chí Quyết làm Bí thư. Nhiệm vụ đặt ra rất lớn: khi thị xã được giải phóng, phải có ngay lực lượng đủ sức tiếp quản, giữ trật tự, quản lý kho tàng, cơ sở y tế, tài chính, giáo dục, tổ chức nhân dân và xây dựng chính quyền cách mạng.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận Buôn Ma Thuột nổ ra. Những ngày sau đó, từng căn cứ, từng mục tiêu của địch trong thị xã lần lượt bị quân ta đánh chiếm. Nhân dân từ trong lo âu, chờ đợi chuyển sang vỡ òa. Khi quân giải phóng tiến vào, cờ xuất hiện khắp nơi. Người dân ùa ra đường, reo mừng, ca hát, có người khóc vì không tin ngày ấy đến nhanh đến vậy. Với ông Lê Chí Quyết, niềm vui ấy rất lớn, nhưng ông không có nhiều thời gian để sống trong cảm xúc chiến thắng. Trước mắt ông là một thị xã vừa thoát khỏi chiến tranh, đầy khó khăn và bất ổn.

Buôn Ma Thuột những ngày đầu giải phóng bộn bề trăm mối. Điện nước bị gián đoạn. Có nơi đường nước vỡ, trời Tây Nguyên tháng Ba nóng bức khiến đời sống người dân càng khó khăn. Nhiều gia đình thiếu lương thực. Một số người còn hoang mang vì chưa hiểu chính sách đoàn kết, hòa hợp của cách mạng. Những gia đình có người từng tham gia chính quyền cũ lo sợ bị phân biệt đối xử. Một số phần tử xấu lợi dụng tình hình để tung tin đồn, gây dao động. Tàn quân và các đối tượng phản động vẫn còn nguy cơ lẩn trốn, phá hoại, gây rối trật tự.

Trong hoàn cảnh ấy, Ủy ban Quân quản phải hành động rất nhanh. Việc đầu tiên là giữ trật tự, trị an, không để thị xã rơi vào hỗn loạn. Đồng thời, phải trấn an nhân dân, kêu gọi binh lính ra trình diện, giao nộp vũ khí, vận động người từng làm việc trong bộ máy cũ trở lại phục vụ những việc cần thiết cho dân sinh. Ở bệnh viện, trường học, cơ sở điện nước, tài chính, nông lâm nghiệp, y tế, giáo dục, không thể để mọi thứ ngừng lại quá lâu. Chiến thắng quân sự chỉ thật sự có ý nghĩa khi người dân cảm thấy cuộc sống được bảo vệ và có thể ổn định trở lại.

Ông Lê Chí Quyết nhớ rõ những cuộc họp khẩn của Ban cán sự Đảng Ủy ban Quân quản. Không có thời gian để bàn những việc xa xôi. Mọi thứ đều là việc trước mắt: ai phụ trách lương thực, ai lo y tế, ai lo giáo dục, ai lo tài chính, ai khôi phục sản xuất, ai nắm tình hình an ninh ở từng khu phố, từng buôn làng. Các cơ quan như Ty Nông lâm nghiệp, Tài chính, Y tế, Giáo dục được tổ chức ngay, mỗi đơn vị chỉ có vài người, nhưng phải gánh những công việc rất lớn. Trong buổi đầu tiếp quản, ít người, ít phương tiện, thiếu cán bộ chuyên môn, nhưng không thể chờ đủ mới làm. Cứ có việc là bắt tay vào việc.

Vấn đề lương thực đặc biệt cấp bách. Sau nhiều năm chiến tranh, đời sống nhân dân đã kiệt quệ. Khi thị xã vừa giải phóng, nếu không giải quyết cái ăn, người dân sẽ tiếp tục đói, lòng người khó yên. Ủy ban Quân quản xin chủ trương mở các kho lương thực thu được của địch để hỗ trợ từng hộ dân. Những kho gạo từng phục vụ bộ máy chiến tranh giờ được mở ra để cứu dân. Hạt gạo trong những ngày ấy không chỉ là lương thực. Nó là lời khẳng định rằng chính quyền cách mạng đến để bảo vệ dân, lo cho dân, chứ không phải để gây sợ hãi.

Cùng với việc mở kho gạo, chính quyền quân quản vận động những nhà buôn có gạo mở kho, đưa gạo ra phát cho dân. Những công nhân điện, nước được huy động trở lại làm việc để khôi phục các hệ thống thiết yếu. Những người có chuyên môn y tế, kể cả người từng làm trong bộ máy cũ, nếu còn có thể phục vụ nhân dân, cũng được vận động ra trình diện và tiếp tục làm việc. Trong tình thế sau chiến tranh, thái độ ấy rất quan trọng. Nó giúp người dân hiểu chính sách của cách mạng là đoàn kết, nhân đạo, dùng người vì việc chung, không gây thêm chia rẽ.

Không khí ở Đình Lạc Giao, nơi Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột ra mắt nhân dân, vì thế vừa trang nghiêm, vừa rất đời thường. Trang nghiêm vì đó là khoảnh khắc chính quyền cách mạng công khai đứng ra quản lý thị xã sau bao năm chiến tranh. Đời thường vì ngay sau buổi ra mắt, bao việc cụ thể lại chờ phía trước: ổn định chợ búa, cấp gạo, vận động dân trở về nhà, kêu gọi binh lính ra trình diện, truy quét tàn quân, giữ kho tàng, mở lại trường học, bệnh viện, tổ chức sản xuất.

Trong lời kể của ông Lê Chí Quyết, một trong những nguyên nhân quan trọng làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột và Đắk Lắk là sự đoàn kết của quân và dân, của đồng bào Kinh - Thượng. Khi thị xã Buôn Ma Thuột được giải phóng, toàn bộ vùng nông thôn cũng nổi dậy. Nhân dân phối hợp với lực lượng cách mạng phá đồn bốt, phá ấp chiến lược, kêu gọi binh lính ra trình diện, giao nộp vũ khí. Ba mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận hòa vào nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp. Đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, tỉnh Đắk Lắk hoàn toàn được giải phóng.

Nhưng sau ngày giải phóng tỉnh, công việc vẫn chưa nhẹ đi. Để người dân không chỉ sống qua vài ngày đầu mà có thể tự đứng dậy lâu dài, Ủy ban Quân quản vận động nhân dân khai hoang vỡ đất, trồng cây lương thực ngắn ngày như lúa, ngô, đậu đỗ, tạo nguồn lương thực tại chỗ. Những ngày ấy, mỗi người một việc. Cán bộ lo chính quyền. Bộ đội giữ an ninh. Nhân dân trở lại sản xuất. Người có nghề thì trở lại nghề. Người có gạo góp gạo. Người có sức góp sức. Từ một thị xã vừa thoát khỏi chiến tranh, Buôn Ma Thuột dần ổn định đời sống và từng bước trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Đắk Lắk.

Điều đáng quý trong ký ức của ông Lê Chí Quyết là ông không chỉ kể về chiến thắng bằng niềm tự hào quân sự. Ông kể về lòng dân. Ông nhớ những buôn làng từng chở che cán bộ trong thời bí mật. Nhớ những người dân bị bom đạn chà đi xát lại nhiều lần vẫn giữ cơ sở. Nhớ những ngày chính quyền cách mạng vừa về đã phải lo từng bao gạo, từng đường nước, từng cơ quan nhỏ vài người để vận hành thị xã. Qua lời kể ấy, người nghe hiểu rằng lịch sử không chỉ nằm ở thời điểm quân ta đánh chiếm mục tiêu. Lịch sử còn nằm ở những giờ phút sau chiến thắng, khi người cách mạng phải chứng minh với nhân dân bằng việc làm cụ thể rằng cuộc sống mới bắt đầu từ sự bình yên, miếng ăn và niềm tin.

Nhiều năm sau, khi trở lại Bảo tàng Đắk Lắk giao lưu với học sinh trong chương trình “Ký ức trận đánh Buôn Ma Thuột 10/3/1975”, ông Lê Chí Quyết không chỉ kể để nhắc về quá khứ. Ông kể để thế hệ trẻ hiểu rằng chiến thắng Buôn Ma Thuột là kết quả của cả một quá trình dài: gây dựng cơ sở, bám buôn làng, chuẩn bị lực lượng, phối hợp quân sự - chính trị - binh vận, rồi tiếp quản và ổn định đời sống sau giải phóng. Mỗi khâu đều có người hy sinh, có người âm thầm làm việc, có người đứng giữa lằn ranh sống chết để giữ niềm tin của dân với cách mạng.

Câu chuyện “Những ngày quân quản ở Buôn Ma Thuột” vì vậy không chỉ là câu chuyện của riêng ông Lê Chí Quyết. Đó là câu chuyện về phần việc lặng thầm sau tiếng súng chiến thắng: mở kho gạo cứu dân, khôi phục điện nước, lập cơ quan quản lý, giữ trật tự, kêu gọi hòa hợp, vận động sản xuất và gây dựng chính quyền mới. Nếu trận đánh Buôn Ma Thuột là đòn điểm huyệt mở ra bước ngoặt của Chiến dịch Tây Nguyên, thì những ngày quân quản sau đó là bước nối cần thiết để chiến thắng đi vào đời sống nhân dân, biến niềm vui giải phóng thành sự ổn định thật sự trên vùng đất Tây Nguyên.

Các chi tiết chính được đối chiếu từ Bảo tàng Đắk Lắk: ông Lê Chí Quyết là nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nguyên Bí thư Đảng ủy Ủy ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột và từng chia sẻ về nhiệm vụ của Ủy ban Quân quản trong chương trình giao lưu “Ký ức trận đánh Buôn Ma Thuột 10/3/1975”. Thông tin về những ngày đầu sau giải phóng dựa trên Bảo tàng Đắk Lắk: ông Lê Chí Quyết cho biết Buôn Ma Thuột khi đó bộn bề khó khăn, từ ổn định kinh tế, đời sống dân đến truy quét phản động, giữ gìn an ninh trật tự; Ủy ban Quân quản tổ chức ngay các cơ quan như Nông lâm nghiệp, Tài chính, Y tế, Giáo dục, đồng thời mở kho lương thực thu được của địch để hỗ trợ dân và vận động nhân dân khai hoang, trồng cây lương thực ngắn ngày. Bối cảnh chiến thắng và vai trò đoàn kết quân dân được đối chiếu từ VOV: ông Lê Chí Quyết nhấn mạnh sức mạnh của quân dân và sự đoàn kết Kinh - Thượng, kết hợp ba mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận; ông cũng nêu sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, nông thôn nổi dậy, kêu gọi binh lính trình diện, giao nộp vũ khí và đến ngày 24/3/1975 tỉnh Đắk Lắk hoàn toàn giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn