Ông Lò Văn Piến
Đoàn Lê Uyên Nhi
"Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất khuất." Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, biết bao người con ưu tú đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ đã viết nên những trang sử chói lọi bằng máu, bằng ý chí và bằng lòng yêu nước nồng nàn. Trong số những anh hùng ấy, ông Lò Văn Piến cũng là một cái tên đã hy sinh xương máu của mình tiếp bước cha anh trên con đường chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đó là người anh hùng mà chúng tôi muốn kể đến trong câu chuyện sau đây:
Khi chúng tôi tìm đến và bước chân vào trong căn nhà nhỏ bé nhưng vẫn chứa đựng sự ấm áp vì trong đó là cả một trái tim còn đỏ rực chứa đựng những tình yêu lớn lao cho đất nước thời chiến trong thời bình. Chúng tôi được tiếp đón bằng một nụ cười niềm nở và ánh mắt trìu mến. Ngồi nghe ông chậm rãi kể lại câu chuyện của hơn bảy mươi năm trước. Đó là những năm đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, khi độc lập, tự do vẫn là khát vọng cháy bỏng trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.
Ông Lò Văn Piến sinh năm 1927 trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tuổi thơ của ông gắn liền với cảnh đói nghèo, cơ cực dưới ách thống trị của thực dân phong kiến. Chính những tháng ngày lầm than ấy đã hun đúc trong ông lòng căm thù giặc sâu sắc và khát vọng giải phóng dân tộc mãnh liệt.
Năm 1940, lúc bấy giờ đất nước còn lâm vào khói lửa, sự tàn khốc của chiến tranh già, trẻ, gái, trai đều phải tham gia kháng chiến. Đó là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn ác liệt. Khắp các làng quê Bắc Bộ, tiếng súng vẫn vang lên từng ngày. Những người thanh niên tuổi mười tám, đôi mươi khi ấy không nghĩ nhiều đến tương lai riêng của mình. Họ chỉ có một khát vọng cháy bỏng, duy nhất: đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại hòa bình cho đất nước.
Họ đều chung một tinh thần, chung một chí hướng đấu tranh chống lại cái ác bảo vệ hòa bình, khi được tổ quốc kêu gọi, ông tình nguyện gia nhập vào đội Giáo Liên trừ gian Việt Ác (Thiếu niên cứu Quốc). Từ một cậu bé người nông dân chân chất, Lò Văn Piến đã không quản ngại khó khăn, nguy hiểm tham gia nhiều hoạt động giúp đỡ cho cánh mạng Việt Nam. Đến năm 1948, khi Quân Khu 2 được thành lập ông gia nhập vào quân ngũ và được biên chế trong đơn vị c2d1e148 khi ông chỉ mới 21 tuổi. Ông nhanh chóng trưởng thành trong môi trường quân ngũ. Ông luôn gương mẫu trong huấn luyện, dũng cảm trong chiến đấu và sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ khó khăn. Đồng đội luôn nói ông là người chiến sĩ giản dị, khiêm tốn nhưng vô cùng gan dạ, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân.
Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng gian khổ. Quân và dân ta phải đối mặt với một đội quân được trang bị hiện đại, có hỏa lực mạnh và hệ thống phòng ngự kiên cố. Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc đã đoàn kết một lòng, từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường. Đỉnh cao của cuộc kháng chiến là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 – trận quyết chiến chiến lược mang ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh đất nước.Nhớ lại quãng thời gian ấy, ông xúc động kể: “Ngày đó ai cũng nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Nhưng hễ Tổ quốc cần là sẵn sàng lên đường. Chúng tôi nghĩ đơn giản rằng nếu mình không đứng lên thì quê hương sẽ mãi còn trong cảnh nô lệ”.Trong trận đánh lịch sử ấy, Lò Văn Piến mặc dù không được tham gia trực tiếp đấu tranh chống thực dân Pháp (do ông bị sốt rét trong quá tình hành quân cùng đơn vị lên Điện Biên tham gia kháng chiến, bị chỉ huy trực tiếp cho ở lại để nghỉ ngơi dọc đường còn đơn vị tiếp tục hành quân), Ông vẫn nhớ như in hình ảnh những người đồng đội tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã ngã xuống trên đường hành quân, những bữa cơm vội giữa núi rừng, những đêm thức trắng dưới mưa bom, đạn pháo. Có những người sáng còn cùng nhau trò chuyện, chiều đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Mỗi lần nhắc đến đồng đội, giọng ông lại chùng xuống. Bởi trong ký ức của những người lính năm xưa, chiến tranh không chỉ là những chiến công mà còn là những mất mát không gì bù đắp được. Máu của biết bao người con ưu tú đã hòa vào đất mẹ để đổi lấy nền hòa bình hôm nay. Nhưng bằng ý chí yêu nước và lòng căm thù giặc ông đã chờ đợi đơn vị khác hành quân đến nơi và tiếp tục di chuyển lên Điện Biên.
Ông còn kể lại, sau khi giải phóng Điện Biên Phủ ông còn tham gia chống tàn dư của pháp “Tiểu Phỉ” tại Lào Cai, Sa Pa, Mường Tè,… Những ngày làm du kích, ông cùng đồng đội bám làng, bám dân, tham gia canh gác, liên lạc và bảo vệ cơ sở cách mạng. Công việc đầy hiểm nguy khi sự sống và cái chết nhiều khi chỉ cách nhau trong gang tấc. Thế nhưng, lòng yêu nước và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng đã giúp những người thanh niên trẻ tuổi vượt qua tất cả.Trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp ông đã rất vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Huân Chương Chiến sĩ vẻ vang và được phong quân hàm thiếu úy. Trên bức tường ngôi nhà nhỏ, những tấm Bằng khen, Giấy chứng nhận và Huy chương Kháng chiến hạng Nhất được gìn giữ cẩn thận. Đó là sự ghi nhận của Đảng và Nhà nước đối với những đóng góp của ông trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhưng hơn tất cả những phần thưởng ấy là niềm tự hào của một người lính đã được sống trong những năm tháng vẻ vang của dân tộc, được góp một phần nhỏ bé của mình vào hành trình giành độc lập, tự do cho đất nước.
Sau những năm tháng phục vụ trong quân đội, năm 1959 ông xuất ngũ trở về quê hương. Tưởng như cuộc đời người lính sẽ khép lại ở đó, nhưng với tinh thần của người từng đi qua chiến tranh, ông lại tiếp tục nhận một nhiệm vụ mới. Năm 1960 Ông cùng gia đình rời mảnh đất quê hương tỉnh Sơn La lên Điện Biên sinh sống. Tại nơi đây lúc bấy giờ vẫn còn nghèo, nhưng bằng ý chí kiên cường của một người lính không quản ngại khó khăn, ông cùng gia đình khai hoang và sinh sống một cách bình yên và thoải mái nhất trên mảnh đất Điện Biên Anh hùng. Đến năm 1962, trong quá trình sinh sống và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao ông đã được nhân dân và chính quyền địa phương tin tưởng giao phó trách nhiệm giữ chức Chánh văn phòng UBND xã Chà Cang. Sau bao nhiêu năm công tác đến năm 1974 ông tiếp tục được bổ nhiệm làm phó Chủ tịch UBND xã Chà Cang. Đến năm 1976, ông cùng gia đình di cư lên mảnh đất Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên lúc đấy còn khó khăn, địa hình hiểm trở dân cư thưa thớt, chỉ có 9 nóc nhà/91 người dân. Thực sự đối với hoàn cảnh thực tế như thế quá khó khăn để bắt đầu một cuộc sống mới. Không bỏ cuộc, ông Piến tiếp tục được tin tưởng bổ nhiệm chức vụ Trung đội trưởng Dân quân Cơ động. Có nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu quan trọng trên địa bàn và sẵn sàng cơ động bổ sung lực lượng khi có tình huống đột xuất sảy ra.Đến năm 1986, ông nghỉ hưu do sức khỏe không đảm bảo. Mặc dù vậy, tinh thần cống hiến cho đất nước, cho tổ quốc vẫn luôn rực cháy trong con người ông.
Ngày nay, đất nước đã hòa bình và đang từng ngày phát triển. Thế hệ trẻ không còn phải cầm súng ra chiến trường, nhưng trách nhiệm đối với Tổ quốc vẫn luôn thiêng liêng. Học tập, lao động sáng tạo, rèn luyện đạo đức, chấp hành pháp luật, xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ chủ quyền quốc gia chính là cách thiết thực để tiếp nối truyền thống của các thế hệ cha anh.Khép lại bài viết, hình ảnh người chiến sĩ Lò Văn Piến với lối sống giản dị và tình yêu nước nồng nàn. Hơn bảy thập kỷ đã trôi qua, nhưng ngọn lửa yêu nước mà ông Lò Văn Piến thắp lên vẫn cháy mãi trong trái tim. Đó là ngọn lửa của lòng dũng cảm, của đức hy sinh và của khát vọng độc lập, tự do. Mỗi chúng ta hôm nay có trách nhiệm giữ gìn, bồi đắp và truyền ngọn lửa ấy cho các thế hệ mai sau, để Việt Nam mãi trường tồn, hùng cường và phát triển.



