Ông Ngô Đăng Hậu và ký ức trận chiến Tây Nguyên ngày 10/3/1973
Tây Nguyên đón ông bằng những cánh rừng bạt ngàn, những con dốc dựng đứng và những cơn mưa rừng dai dẳng. Ban ngày hành quân, ban đêm đào công sự, phục kích, trinh sát. Cơm không đủ no, nước không đủ uống, sốt rét rừng luôn rình rập. Nhưng vượt lên tất cả là “ý chí của người lính Cụ Hồ”. Ông Hậu và đồng đội hô giữ trong mình khẩu hiệu: “Đi sâu, vào lâu, chờ ngày chiến thắng”.
Tại tổ 10, phường Tân Phong, tỉnh Lai Châu, có một người lính già mà bà con vẫn thường gọi bằng cái tên thân thương: ông Hậu. Tên đầy đủ của ông là Ngô Đăng Hậu, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1954. Ông sống giản dị trong ngôi nhà nhỏ, ngày ngày chăm vườn và trò chuyện cùng con, cháu. Ít ai biết rằng, sau dáng vẻ điềm đạm ấy là cả một “thời kháng chiến ác liệt”, in đậm dấu ấn của “trận chiến ngày 10 tháng 3 năm 1973 trên chiến trường Tây Nguyên”.
Rời quê lên đường ra trận.
Ông sinh ra và lớn lên tại xã Xuân Khê, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nay thuộc xã Nhân Hà, tỉnh Ninh Bình. Ông Hậu sinh ra và lớn lên trong những năm đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Khi Tổ quốc cần, ông gác lại ruộng nương, gia đình, tình riêng để khoác ba lô lên đường nhập ngũ.
Ngày chia tay, không có cờ hoa, chỉ có ánh mắt lo lắng của người mẹ và cái bắt tay thật chặt của người cha. Ông hiểu rằng, chuyến đi này có thể là “đi không hẹn ngày về”, nhưng lòng yêu nước đã thôi thúc ông bước tiếp.
Ông đã trải qua rất nhiều chiến trường từ tháng 6/1972 ông được nhà nước đưa đi huấn luyện 3 tháng. Sau khi kết thúc 3 tháng huấn luyện vất vả, ông được phân công vào chiến trường C (ở cánh đồng chum Xiêm Khoảng vào mùa mưa Lào năm 1972). Sau khi Việt Nam kí kết hiệp định Pari năm 1973, ông nhận được lệnh điều động vào “chiến trường Tây Nguyên” nơi được coi là “yết hầu chiến lược” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sau đó ông lại vào miền nam để giải phóng miền nam thống nhất đất nước.
Quá trình hành quân đầy gian khổ, ông và đồng đội phải khoác trên vai những bao lô, khẩu súng nặng trĩu (khoảng 42 kg). Lương thực hàng ngày là gạo rang và mấy mẩu lương khô. Nước thì tự chuẩn bị, có thể là nước suối, nước đọng lại tại các vũng trâu đằm, hoặc nước trong các ống dẫn của người dân Tây Nguyên dùng để tưới cây và đôi khi là nước có vị đắng của phân hoá học…. quần áo cả tháng trời không thể thay, không giặt, không tắm vì thiếu nước trầm trọng. Những đêm hành quân trong rừng với sự im lặng đến lạ thường, đường đi không có chỉ được đánh dấu lại bởi một vài cành cây. Cả trung đoàn nối đuôi nhau đi trong đêm khuya, chỉ nghe tiếng bước chân để tìm ra đồng đội. Ông kể “không may có lần ông bị vấp ngã khi đứng dậy không tìm thấy đồng đội đâu nữa, ông lắng tai nghe thật kí để tìm hướng đi của đồng đội, khi tìm được đồng đội ông thở phào nhẹ nhõm, và từ đó ông bước đi thật cẩn thân để không bị ngã”. Quá trình hành quân trong đêm chỉ có thể nghỉ ngơi tại chỗ khoảng 3 đến 5 phút, xung quanh là rắn rết, bom mìm của quân địch cài dưới đất, những bước chân đi trên những quả bom không may dẫm phải thì ông và đồng đội có thể tan xác bất cứ lúc nào không hay. Ông kể “Mỗi một người lính lúc nào cũng để sẵn trong túi áo, túi quần, bao lô các tờ giấy chỉ ghi vỏn vẹn là tên tuổi, quê quán của mình để khi chết có người phát hiện và biết tên báo lại cho gia đình. Những khó khăn vất vả ấy, những giây phút chứng kiến đồng đội mình bị tan xương nát thịt từ những quả bom từ kẻ thù ác,… không làm ông và đồng đội chùn bước.
2. Tây Nguyên – mảnh đất lửa.
Tây Nguyên đón ông bằng những cánh rừng bạt ngàn, những con dốc dựng đứng và những cơn mưa rừng dai dẳng. Ban ngày hành quân, ban đêm đào công sự, phục kích, trinh sát. Cơm không đủ no, nước không đủ uống, sốt rét rừng luôn rình rập. Nhưng vượt lên tất cả là “ý chí của người lính Cụ Hồ”. Ông Hậu và đồng đội hô giữ trong mình khẩu hiệu: “Đi sâu, vào lâu, chờ ngày chiến thắng”.
Ông Hậu kể rằng: Buôn Ma Thuột nằm ở trung tâm Tây Nguyên, là nơi “khống chế các tuyến giao thông huyết mạch” như tuyến đường Bắc - Nam; tuyến đường Tây Nguyên với duyên hải Miền Trung; và nối sang Lào và Cam – Pu- Chia. Vì vậy, Ai kiểm soát Buôn Ma Thuột sẽ “nắm quyền làm chủ Tây Nguyên”, từ đó tác động mạnh đến toàn bộ chiến trường miền Nam. Vì lý do đó, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã ra quyết định tổng tấn công vào Tây Nguyên. Tại chiến trường Tây Nguyên ông được cấp trên phân công vào quân sư đoàn bộ binh 316 để tham gia cuộc tổng tấn công vào Bộ Chỉ huy 23 của lính Nguỵ tại Buôn Ma Thuột.
3. Trận chiến ngày 10/3/1975 – ký ức không quên.
Sở chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy nằm ở trung tâm thị xã Buôn Ma Thuột, là cơ quan chỉ huy đầu não của địch ở tỉnh Đắk Lắk và cả Nam Tây Nguyên. Bao quanh căn cứ này có rất nhiều căn cứ quân sự: phía Bắc là căn cứ thiết giáp, pháo binh, hậu cứ Trung đoàn 44, sân bay trực thăng; phía Đông là Tiểu khu Đắk Lắk; phía Tây là khu kho Mai Hắc Đế, khu truyền tin, vận tải, quân y, Bộ Tham mưu. Tại đây, sau khi phán đoán ta có khả năng tấn công thị xã Buôn Ma Thuột, địch đã tăng cường phòng thủ, đào thêm nhiều hầm hào, rào thêm nhiều lớp rào kẽm gai, bố phòng thành nhiều tầng, nhiều lớp rất khó tấn công. Ở đây, ngoài lực lượng hiện có, từ ngày 1/3/1975 chúng còn tăng cường thêm Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 53 về đây bảo vệ.
Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện chiến dịch đánh nghi binh. Các quân sư đoàn khác đánh chiếm các khu căn cứ bên ngoài trước để làm rối loạn quân địch. Khi quân địch thấy các căn cứ bên ngoài bị đánh chiếm thì họ đã đưa quân để viên binh. Quân sư đoàn 316 của ông nằm gai, nếm mật chờ đợi thời cơ, khi quân địch đang rối loạn và sơ hở thì khoảng 3 giờ sáng ngày 10/3/1975, sư đoàn 316 đã áp sát vào sư đoàn 23 của lính nguỵ và tiếng pháo mở màn của quân Việt Nam bắn thẳng vào trung tâm của quân sư đoàn 23 của địch. Khi tiếng pháo nổ ra tiểu đội của ông ít nhất có 12 đồng chí và các tiểu đội khác cùng đồng loạt xông lên và đánh chiếm vào căn cứ 23 của nguỵ. Tiếng súng của quân địch và quân ta nổ ra ác liệt nhưng ông và các đồng đội vẫn không ngừng tiến về phía trước. Sau khi đánh chiếm được khu căn cứ 23 của nguỵ tiểu đội của ông đã có 10 đồng chí hy sinh. May mắn ông và 1 đồng chí khác chỉ bị thương.
Ngày 11/3/1975 quân sư đoàn 316 và các sư đoàn khác đã đánh chiếm được hết bộ chỉ huy các khu vực còn lại. Cùng với sự chiến thắng đó quân ta tiếp tục đánh các căn cứ còn lại tại ngã ba, ngã bảy tại Buôn Ma Thuột và dành được thắng lợi. Sau khi kết thúc mặc dù bị thương nhưng ông cùng đồng đội còn sống sót đã đi tìm xác của những người đồng đội của mình để báo về cho cấp trên, báo cho người nhà về sự hy sinh anh dũng ấy.
Sau khi chiếm được căn cứ tại Buôn Ma Thuột, mặc dù trong trận chiến quân ta đã hy sinh rất nhiều nhưng chiến công của Sư đoàn 316 và toàn quân tại Buôn Ma Thuột đã giáng một đòn chí mạng vào tuyến phòng thủ của địch, tạo ra một bước ngoặt quan trọng, mở màn cho thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên và là tiền đề cho Đại thắng Mùa Xuân năm 1975.
4. Trở về đời thường.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Ngô Đăng Hậu xuất ngũ, trở về với cuộc sống đời thường. Nhiều năm sau, ông cùng gia đình lên Lai Châu để khai hoang và sinh sống tại Lai Châu. Hiện nay ông cùng gia đình, con cháu cùng quây quần tại “tổ 10, phường Tân Phong, tỉnh Lai Châu”.
Ông không bao giờ kể nhiều về chiến công. Với ông, đó là trách nhiệm của người lính. Nhưng mỗi dịp 10/3 hằng năm, ông lại trầm ngâm, như sống lại những ngày tháng ở Tây Nguyên – nơi tuổi trẻ của ông đã gửi lại.
5. Ngọn lửa truyền thống tại tổ 10
Ngày nay, ông Ngô Đăng Hậu là “tấm gương sáng về tinh thần yêu nước” cho con cháu và bà con tổ 10. Mỗi khi được mời nói chuyện truyền thống, ông thường căn dặn thế hệ trẻ: “Các cháu sinh ra trong hòa bình, phải biết trân trọng hòa bình. Hãy sống xứng đáng với những người đã nằm lại nơi chiến trường.”
Câu chuyện về ông không chỉ là câu chuyện của một cá nhân, mà là “ký ức sống của dân tộc”, góp phần nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị của độc lập, tự do.


