“Ông Tướng gàn” Trần Đại Nghĩa
Vai trò của ngành chế tạo vũ khí rất được Bác Hồ coi trọng, thể hiện qua những đặc quyền mà Bác dành cho Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa. Ngày đó, Bác thường dặn dò quân nhu: “Chú Nghĩa nghiện thuốc lá. Phải nhớ chuẩn bị đủ thuốc lá cho chú ấy hút để chú ấy còn nghiên cứu”.
Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa cũng là một trong rất ít những người có thể trực tiếp gọi điện hay đến gặp Bác Hồ mà không cần thông qua bất cứ ai. Nhưng Trần Đại Nghĩa lại sống rất giản dị, đúng như những lời hứa của ông với Bác khi trở về Việt Nam theo cách mạng.
Bà Nguyễn Thị Khánh, phu nhân của Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, là người hiểu hơn ai hết lối sống bình dị của ông. Ông bà gặp nhau tại chiến khu Việt Bắc, khi ông đang là Cục trưởng Cục Quân giới, còn bà là y tá của Cục.
Hồi còn ở Pháp, ông đã thề sẽ không lấy vợ, để cống hiến đời mình cho cách mạng. Có cô gái người Pháp xinh đẹp si mê ông, ông cũng khéo léo chối từ, dù trong lòng cũng thấy rung động. Nhưng ở chiến khu, trước cô gái Nguyễn Thị Khánh xinh xắn, can đảm, ông đã từ bỏ ý định không lấy vợ.
Đám cưới của ông bà được tổ chức ở Việt Bắc. Trước hôm đám cưới, có người định viết thư báo với Bác để Bác cho ít quà làm đám cưới cho ông, ông gạt đi: “Bác còn bao nhiêu việc, đừng làm phiền Bác việc cỏn con”.
Ông vét túi được 50 đồng, đi mua 1 bao quả mắc cọp ở chợ thị xã về làm cỗ cưới. Anh em các cục, các đơn vị đến ăn cưới, thấy thế bèn góp thêm mỗi người vài đồng để nhờ các anh nuôi của Cục Quân giới mua đồ ăn nấu cỗ cưới cho ông.
Bà Nguyễn Thị Khánh kể, ngày chưa cưới ông, dù đã nghe kể về sự tài giỏi của ông và rất phục ông, nhưng bà vẫn nhận ra là ông rất “gàn”, ăn mặc lôi thôi, đầu tóc bù xù, trong đầu lúc nào cũng chỉ có vũ khí. Nhưng vì anh em vun vào, bà đã lấy ông – dù ông hơn bà tới 14 tuổi.
Sau đám cưới, bà mới chứng kiến được hết cái sự “gàn” của chồng mình. Bà bảo ông có một thói xấu lớn, đó là thói ở bẩn. Ông chẳng mấy khi chịu tắm rửa, giặt giũ quần áo, đầu tóc lúc nào cũng bù xù. Làm bất cứ việc gì mà để mất thời gian đọc tài liệu, nghiên cứu vũ khí, ông đều tiếc.
Hồi mới yêu nhau, có lần ông gọi bà lên, hốt hoảng: “Bác Hồ sắp đến thăm đơn vị. Khánh giúp anh dọn dẹp phòng ốc với. Bác nhìn thấy thế này phê bình chết”. Bà nhìn căn phòng bừa bộn, chăn màn lung tung và đống quần áo bẩn ông giấu trong hòm mà thở dài ngao ngán…
Sau này nên vợ nên chồng, tính cách của ông cũng không hề thay đổi. Ông bà có 4 người con, cả 4 người con đều do bà tự tay chăm sóc, nuôi nấng. Việc duy nhất tồn tại trong đầu ông là vũ khí và vũ khí. Có những lúc bà gọi ông ra ăn cơm, mà ông cứ ngồi im như phỗng vì đang mải mê đọc một tài liệu hay.
Cũng có lần, anh em trong đơn vị tìm ông cả ngày không thấy, đến lúc ra bờ suối thì thấy ông đang ngồi hý hoáy ghi ghi, chép chép bên bờ suối. Là vợ Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, bà Khánh đã quen với những đêm ông nằm ngủ mà miệng vẫn lẩm nhẩm chuyện vũ khí.
Có đêm đang ngủ, chợt nghĩ ra một công thức nào đó, ông bật dậy ghi ghi, chép chép rồi lại tiếp tục đi ngủ. Thỉnh thoảng bà vẫn phàn nàn ông là “ông Nghĩa gàn dở”, vì tính ông cả đời chỉ biết cống hiến, không bao giờ nghĩ đến bản thân mình.
Sau kháng chiến chống Pháp về Hà Nội, ông bà được phân cho ở tại số nhà 56 Hàng Chuối, cùng với một gia đình khác. Cấp dưới đến nhà thấy nhà cửa chật chội nói với ông: “Sao thủ trưởng không lên tiếng? Thủ trưởng phải được ở một chỗ tốt hơn như thế này”. Ông gạt đi: “Thế này là tốt lắm rồi. Có người còn không có nhà mà ở”.
Từng là Cục trưởng Cục quân giới, là Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa, rồi là Thứ trưởng Bộ Công thương, cùng với nhiều chức vụ khác, nhưng đến lúc về già, ông vẫn chẳng có gì.
Cuối những năm 1980, ông đưa cả gia đình vào Nam sinh sống. Thành phố cấp cho ông một căn nhà nhỏ có từ thời trước 1975 trong con ngõ trên đường Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận.
Năm này qua năm khác, những nhà khác xây cao lên, xây to ra, có nhà bên cạnh còn lấn chiếm đất nhà ông, bà nhắc ông, ông cũng bảo “kệ người ta, họ thích lấn thì cứ cho họ lấn, mình vẫn còn nhà để ở”.
Cũng có lúc bà than phiền với ông vì các nhà bên cạnh đều xây cao lên, nhà ông bà vẫn ở thấp, nên mỗi khi trời mưa, nước lại ngập nhà”, ông cũng tặc lưỡi: “Nhà ngập thì ta tát nước ra chứ sao, lại khô như thường”.
Biết tính chồng, nên diết rồi bà Khánh cũng không bao giờ than phiền với chồng bất cứ điều gì nữa. Bà âm thầm đi bên ông, hi sinh cho ông,vui vẻ ở cùng ông trong căn nhà cũ kĩ suốt mấy chục năm trời.
Ông là Thiếu tướng, là Giáo sư, Viện sĩ, là Anh hùng Lao động được phong danh hiệu đợt đầu tiên, cái đó ai cũng biết. Nhưng sau lưng ông, người vợ của ông đã phải vất vả, khổ cực như thế nào, thì không phải ai cũng biết.
Ngày 30/04/1975, khi nước nhà thống nhất, ông có ghi vào cuốn sổ tay của mình: “Đã hoàn thành nhiệm vụ” – đó là nhiệm vụ cứu nước, cứu dân mà khi mới 20 tuổi, ông đã ấp ủ trong lòng. Ông đã từ bỏ mức lương 20 lạng vàng 1 tháng để về Việt Nam theo cách mạng.
Nếu ở lại Pháp, có lẽ ông đã sung sướng, giàu có như những bạn bè của ông ở lại trên đất nước ấy. Nhưng đổi lại, khi về Việt Nam, ông có danh hiệu “ông vua vũ khí Việt Nam” và một thứ quan trọng hơn cả mọi danh hiệu: đó là sự ghi nhận của nhân dân, đất nước, của lịch sử cho những đóng góp của ông cho Tổ quốc của mình!



