Bài viết

Ông Xoài của Nang Xón Khăm

Có một người chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam nghe lời kêu gọi của Bác Hồ, đã lên đường đi đánh Pháp, đánh Mỹ giúp nước bạn Lào từ lúc 18 tuổi, cho đến nay đã trên tám mươi tuổi vẫn sinh sống trên đất Lào, trở thành người Lào thuộc bộ tộc La-vên...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có một người chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam nghe lời kêu gọi của Bác Hồ, đã lên đường đi đánh Pháp, đánh Mỹ giúp nước bạn Lào từ lúc 18 tuổi, cho đến nay đã trên tám mươi tuổi vẫn sinh sống trên đất Lào, trở thành người Lào thuộc bộ tộc La-vên. Ở Lào, không ai còn nhớ cái tên Việt Nam của ông, mà người ta chỉ biết ông là cựu Tỉnh trưởng tỉnh Xê Kông tên gọi là Bun Nhưn. Vậy Bun Nhưn là ai, xin hãy nghe ông Sáu Lực - đồng đội của ông và bà Xón Khăm - người vợ Lào của ông Bun Nhưn kể lại.

Sáu Lực tên thật là Nguyễn Văn Tấn (nguyên thư ký của Chủ tịch nước Võ Chí Công). Ông cho tôi hay rằng Bun Nhưn chính là Lê Viết Muồng, sinh ngày 7-10-1930 tại làng Cẩm Nam, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Làng của Muồng cách làng Thanh Hà của Sáu Lực chỉ mười cây số. Đáp lời yêu cầu của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đồng chí Phạm Văn Đồng, lúc đó làm đại diện Chính phủ Việt Nam ở Trung Bộ lập ngay một khu đặc biệt giúp bạn và cử đội quân đầu tiên đi giúp Lào. Ngày 19-8-1948, đội quân này gồm 19 chiến sĩ các tỉnh thuộc Khu 5, được ông Phạm Văn Đồng đưa tiễn và nhắc lại lời Bác Hồ căn dặn: “Ta đi giúp bạn Lào đánh Pháp là tự giúp mình, bởi vậy tôi nhắc các đồng chí khi chiến đấu ở xa Tổ quốc, các đồng chí phải thương yêu đất nước, núi sông, cây cỏ và nhân dân Lào như thương yêu đất nước, núi sông, cây cỏ và nhân dân Việt Nam ta vậy. Chúc các đồng chí lên đường chân cứng đá mềm, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang”…

Ông Lê Viết Muồng (bên phải) và tác giả. Ảnh: PV.

Không bao lâu sau đó, một đội quân khác cũng xuất phát từ thôn Đề An, xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi vượt Trường Sơn lên Hạ Lào. Trong đội quân đó có hai thanh niên Hội An, Quảng Nam, đó là Muồng và Sáu Lực. Đến Hạ Lào, Sáu Lực được cử về công tác bảo vệ Khu ủy và Muồng về tổ bộ đội vừa đánh giặc, vừa xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch đóng trên các bản làng của đồng bào dân tộc La-vên thuộc Đắc Chưng tỉnh miền Đông, người Lào gọi là tỉnh Tà Vê-nọc (mặt trời mọc-nay gọi là tỉnh Xê Kông). Lúc này, các đồn bốt của giặc Pháp đóng trong vùng các bộ tộc La-vên, Kà Tu, Xoay, A-lắc, Ta-riềng, La-ve,… suốt ngày đêm xua quân đi lùng bắt, bắn giết cán bộ, đảng viên; bắt thanh niên đi lính, hãm hiếp đàn bà, con gái; cướp của, đốt nhà, phá nương rẫy. Đồng bào dân tộc đói khổ, bệnh tật lại bị giặc đàn áp rất dã man, tàn bạo.

Để che mắt Pháp và lũ phản động theo giặc, Muồng đã đổi tên và tự rèn luyện mình thành người La-vên: Cà răng, cưa cụt hai hàm răng đến tận lợi, xoi lỗ hai dái tai và căng tai ra để đút hai khúc gỗ tròn vào dái tai. Da Muồng vốn đã ngăm ngăm đen, ông còn cởi trần đóng khố, cùng đi phát nương làm rẫy, săn bắt con giúi, con rắn, con chuột, đào củ rừng, hái lá rừng để ăn. Cứ phải chịu cực, chịu đau đớn phơi nắng trên nương trên rẫy, nằm im cho muỗi mòng, sên vắt đốt cắn và hút máu cho da thịt lì ra, dày ra. Tập ăn mắm ngóe, mắm cóc và học tiếng La-vên, tiếng Lào thành thạo như người nông dân. Chỉ vài năm sau, Muồng thực sự trở thành người La-vên. Ông dẫn người ở các bản vào đồn địch, đấu tranh chống giặc cướp của, đốt nhà, hãm hiếp; đòi địch không được bắt bớ, cầm tù, bắn pháo vào bản, vào nương rẫy. Địch không thể phát hiện được Muồng là một chiến sĩ tình nguyện của quân đội Việt Nam. Muồng xây dựng bản làng thành cơ sở du kích của cách mạng, biến vùng dân tộc La-vên mình phụ trách trở thành vùng giải phóng, lập được chính quyền vững mạnh. Và ông đã trở thành cấp ủy của Đảng, suốt 7 năm cho đến tận lúc giặc Pháp thất bại, phải rút quân ra khỏi ba nước Đông Dương.

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, Lê Viết Muồng được bạn Lào yêu cầu Việt Nam cho ở lại Lào tiếp tục xây dựng cơ sở các vùng dân tộc ở Hạ Lào. Ông được nhân dân các bộ tộc ở Hạ Lào và đồng chí, đồng đội mến yêu, tin tưởng bầu vào cấp ủy, trực tiếp làm Bí thư Đảng kiêm Tỉnh trưởng lãnh đạo quân đội và nhân dân Xê Kông đánh Mỹ, lập được nhiều thành tích, được Chính phủ cả hai nước Việt - Lào tặng thưởng nhiều huân chương. Ông bám trụ lại đất Lào, lãnh đạo nhân dân các bộ tộc ở Xê Kông đánh Mỹ cho đến ngày toàn thắng. Đến lúc về hưu, Muồng cùng người vợ trẻ trở lại tỉnh Xê Kông sinh sống cho đến ngày nay.

Ông Lê Viết Muồng hướng dẫn cho vợ dệt thổ cẩm trên khung cửi. Ảnh: TRẦN CÔNG.

Cuối tháng 7-2012, được cùng đi trong đoàn đại biểu Quân tình nguyện Việt Nam khu Hạ Lào trở về thăm chiến trường xưa, khi được đến tỉnh Xê Kông, chúng tôi được ghé thăm nhà vợ chồng ông Lê Viết Muồng và bà Nang Xón Khăm.

Gặp lại đồng đội cũ, ông mừng rơi nước mắt, không nói gì nhiều, ngồi nhìn hết người này đến người khác và chỉ cười, hai hàm răng đều đặn và trắng bóng như răng trai tráng. Nghe bạn khen nụ cười Muồng còn có duyên nhờ hàm răng đẹp, bà vợ Muồng nói: “Răng giả cả đấy”. Chúng tôi hiểu, xưa kia ông đã cà răng, căng tai để đóng vai người La-vên, che mắt giặc mà hoạt động bí mật. Đến nay thì ông chẳng cần che mắt ai bởi ông đã trở thành người Lào, người La-vên thật sự rồi. Cách nói năng, cư xử, cách đứng sau lưng vợ, bày cách cho vợ đưa thoi dệt nên cái váy, cái áo, cái khăn chẳng ai biết Muồng là người Việt Nam. Trong lúc ông đi lục ngăn kéo tìm lại những hình ảnh cũ cho đồng đội xem, tôi tranh thủ hỏi bà chuyện tình duyên của hai người. Với giọng nói nhỏ nhẹ, phát âm tiếng Lào phổ thông còn cứng, Nang Xón Khăm kể lúc hai người thương nhau, đoàn thể làm đám cưới cho thì ông đã già, bà thua ông đến ba chục tuổi. Giọng bà âu yếm gọi ông là “anh Xoài của tôi”, và kể: “Hồi còn trẻ, nhiều con trai dân tộc Xoay, Ka-tu, Tà-riềng, La-vên theo tôi nhưng tôi chỉ nhớ, chỉ thương một mình anh Xoài của tôi thôi. Bởi anh Xoài bỏ lại xứ sở Việt Nam cha mẹ, bà con, anh chị em để đi đánh giặc giúp Lào. Lên Lào cùng sống cùng chết với người La-vên, cùng ăn, cùng ở làm nương rẫy, đánh giặc với người Lào mà quên cả gia đình, quên cả lấy vợ, vì thế tôi yêu thương anh Xoài của tôi nhất. Không lấy được anh Xoài làm chồng thì tôi chỉ chết thôi, không sống được đâu… Nhưng Xón Khăm không chết, lại được tổ chức cho đến làm thư ký đánh máy cơ quan ông một thời gian dài và tiếp tục yêu ông. Cái tên Việt Nam của Muồng, dịch ra tiếng Lào là Xoài. Mỗi lần kiếm được quả xoài chín thơm lừng, Khăm gọi “anh Xoài của em” và mang xoài đến biếu Muồng. Tình yêu của Xón Khăm cháy bỏng nhưng Muồng không để ý, hay ông đang theo một mối tình nào đó mà không quan tâm đến nỗi lòng của Khăm?

Thật ra Muồng cũng yêu Xón Khăm nhưng không dám tỏ tình vì tự thấy mình xấu xí và tuổi lấy vợ đã qua lâu rồi. Còn Xón Khăm thì tính nết ngoan hiền, dịu dàng và trẻ đẹp như thế, biết làm sao!

Một hôm thấy Muồng ngồi một mình, miệng hát nho nhỏ một bài dân ca La-vên, Xón Khăm đến nấp lắng nghe:

Yêu em mơ theo dấu chân em từng bước

Mơ thành giọt nước ở với em chung hồ

Anh muốn chết biến thành ếch để sống cùng em chung ruộng …

Nghe đến đó, Nang Xón Khăm xúc động rời chỗ nấp chạy ào đến ôm lấy Muồng và bật khóc:

“Anh Xoài của em ơi! Em không cho anh chết đâu. Anh không phải biến thành ếch, thành nước gì cả. Em đã là của anh lâu lắm rồi. Bây giờ em là vợ của anh…”.

Lê Viết Muồng-Bun Nhưn ôm lấy Xón Khăm và nói: “Yêu em lắm nhưng chúng mình không lấy nhau được đâu. Em thì trẻ đẹp mà anh đã quá già”.

Khăm đưa bàn tay bịt miệng Muồng và nói: “Em không cho anh nói lời của ma quỷ đâu. Anh già thì em gọi “ông Xoài của Nang Xón Khăm” thôi”.

Từ sau hôm đó, họ gắn bó với nhau như hai giọt nước chung một hồ. Đoàn thể và nhân dân bộ tộc La-vên của nước Lào đã làm lễ cưới cho Nang Xón Khăm trở thành vợ của Bun Nhưn, họ sống hạnh phúc bên nhau cho đến tận bây giờ …

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn