Phạm Hùng
Vũ Thanh Huyền
Ông Phạm Hùng, tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11/6/1912, trong một gia đình nông dân ở xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (hiện nay).
Năm 1928, khi mới 16 tuổi ông hoạt động trong phong trào yêu nước của thanh niên, học sinh. Năm 1930, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản, đã hoạt động qua cấp chi ủy xã, huyện ủy và Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, lúc đó mới 19 tuổi.
Năm 1931, trong cuộc chỉ đạo biểu tình quy mô ở Mỹ Tho, ông bị bắt và bị kết án tử hình. Nhưng do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta cùng các lực lượng tiến bộ trên thế giới, địch buộc phải giảm án còn chung thân khổ sai và đày ông đi Côn Đảo.
Trải qua 15 năm bị tù đày trong nhà lao đế quốc, trong đó có 11 năm ở nơi "địa ngục trần gian" Côn Đảo, biết bao hình phạt tàn khốc của kẻ thù vẫn không thể nào khuất phục được "con người thép" - người chiến sĩ cộng sản Phạm Hùng, ông luôn luôn đứng đầu sóng ngọn gió, đấu tranh tiêu biểu trong nhà tù. Được sự tín nhiệm cao, suốt thời gian ở tù, ông làm Phó Bí thư, rồi Bí thư Đảng bộ nhà tù.
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được rước về đất liền, được bầu làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ.
Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ông giữ nhiều vị trí lãnh đạo như: Ủy viên, rồi Bí thư Trung ương Cục kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ, Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Liên hiệp đình chiến Nam Bộ, Trưởng phái đoàn liên lạc Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạnh Ủy ban Quốc tế Sài Gòn. Trong thời gian này ông đã vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể của miền Nam, đề ra các chủ trương, đường lối phù hợp với thực tiễn như: mở rộng chiến tranh nhân dân, thực hiện dân chủ nông thôn, chỉ đạo phong trào đấu tranh ở đô thị,… Nhờ vậy, khối liên minh công - nông không ngừng được đẩy mạnh, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Năm 1967-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước vào thời điểm vô cùng gay go, ác liệt, ông được phân công vào chiến trường miền Nam. Trên cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy viên lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, đồng chí đã lãnh đạo quân và dân ta nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, luôn tìm tòi, sáng tạo từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh, buộc Mỹ rút quân về nước.
Sau khi đất nước hòa bình, ông được Đảng và Nhà nước giao giữ nhiều cương vị: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa II, III, VI, VII, VIII.
Với những trọng trách lớn lao trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, phức tạp sau ngày giải phóng, ông đã thể hiện bản lĩnh của một nhà lãnh đạo có tầm chiến lược, giàu kinh nghiệm, quyết đoán và sáng suốt. Ông đã để lại những dấu ấn sâu đậm của một người cán bộ giàu bản lĩnh, một nhà lãnh đạo tài năng trong các quyết định và triển khai các quyết sách của Đảng và Nhà nước.
Ngày 10/3/1988, ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh sau một cơn đau tim đột ngột. Với quá trình cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng - huân chương cao quý nhất; Huân chương Cách mạng Tháng Mười của Nhà nước Cộng hòa liên bang Xô viết và nhiều huân chương cao quý khác của các nước Cu Ba, Tiệp Khắc, Bungari.


