Phạm Mạnh Hùng
Chú Phạm Mạnh Hùng sinh ngày 28/4/1942 tại Cống Trúc, sớm theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tham gia vào Tiểu đoàn 58 – Đoàn Pháo binh Biên Hòa, đơn vị anh hùng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Thời điểm ấy, đất nước đang trong giai đoạn khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1963, ông chính thức được công nhận là chiến sĩ Pháo binh, được giao nhiệm vụ tại Trung đoàn 68, chuyên sử dụng pháo cối 120mm – loại pháo có sức công phá mạnh, mỗi khẩu nặng tới hàng trăm kilogram.
Những năm tháng chiến đấu của ông cùng đồng đội là chuỗi ngày gian khổ nhưng đầy kiêu hãnh. Cuộc hành quân từ Bến Vũ Viện (Thanh Hóa) vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu kéo dài hàng tháng trời. Người lính trẻ mang trên vai không chỉ khẩu pháo, ba bộ quần áo, mà còn là niềm tin tất thắng và lý tưởng độc lập, tự do cho dân tộc. “Toàn bộ quân tư trang không được mang theo vật dụng gì của miền Bắc. Tất cả phải ngụy trang đúng kiểu quân giải phóng miền Nam” – ông kể lại.Khi đặt chân đến chiến trường miền Đông Nam Bộ vào tháng 4/1966, Tiểu đoàn 58 đã nhanh chóng tham gia chiến đấu ở nhiều mặt trận ác liệt. Một trong những trận đánh ông nhớ mãi là trận pháo kích vào sân bay Biên Hòa – nơi Mỹ - ngụy tập trung nhiều máy bay chiến đấu và kho vũ khí. Những loạt đạn đầu tiên của khẩu pháo 120mm vang lên trong tiếng hô dõng dạc của người chỉ huy, mở đầu cho chuỗi ngày chiến đấu oanh liệt.Chú Hùng kể lại, trong trận chiến ấy, pháo binh của ta phải dùng sức người kéo từng khẩu pháo nặng hàng trăm ký vượt qua dốc núi hiểm trở, giấu pháo trong rừng rồi ngụy trang chờ thời cơ. “Nếu dây kéo trượt một lần thôi là cả khẩu pháo có thể rơi xuống vực. Nhưng người lính chúng tôi vẫn kiên cường, không ai rời vị trí”.Đặc biệt, trong trận đánh ngày 18/3/1969, Tiểu đoàn 58 nhận lệnh của Bộ Tổng tư lệnh chi viện cho Trung đoàn 141 tiêu diệt cứ điểm Dầu Tiếng. Dưới làn bom đạn ác liệt, đơn vị đã dũng cảm vượt qua hơn 7km địa hình trống trải, lập ba trận địa giả để nghi binh, rồi đồng loạt khai hỏa. Hơn 400 quả đạn pháo và cối được bắn cấp tập trong suốt một giờ, làm rung chuyển cả vùng chiến sự. Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, song trận đánh giành thắng lợi lớn, góp phần làm phá vỡ tuyến phòng thủ kiên cố của địch ở miền Đông Nam Bộ.Nỗi đau mất mát vẫn hằn sâu trong ký ức người cựu binh: “Trong một trận đánh năm 1967, 35 đồng chí của chúng tôi đã hy sinh khi bom Mỹ dội xuống. Mãi đến năm 1996 mới tìm được hài cốt của ba đồng chí để đưa về an táng”. Với ông, mỗi nắm đất, mỗi dòng tên khắc trên bia mộ là một phần máu thịt của đồng đội, của cả một thế hệ đã nằm xuống để đất nước hòa bình.



