Phạm Thận Lâm - Cựu Tù Côn Đảo
Sau Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, quân Pháp tăng cường lực lượng từ Hải Phòng lên đánh phá Liên khu 11-Hà Nội. Trước tình hình mới, cấp trên điều động ông từ Quân đội sang ngành an ninh, biên chế vào Đội Chi Lăng thuộc Công an xung phong nội đô Hà Nội. Thời gian ấy, ông lập nhiều chiến công trong quá trình trinh sát điều tra vẽ sơ đồ tác chiến đánh sân bay Bạch Mai, đồng thời tham gia nhiều trận đánh trừ Việt gian phản động. Không may, đến năm 1948, trong lần vượt tường rào vào thủ tiêu một tên ác ôn ở Hà Nội, ông Nam bị địch phát hiện. Quả lựu đạn ông ném chặn đường rút lui không nổ, ông bị bắt giam vào Nhà tù Hỏa Lò, rồi bị đày ra Côn Đảo. Suốt 6 năm bị tra tấn và lao động khổ sai trên đảo, ông vẫn không khai báo nửa lời, quyết giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Ngay trong năm 1949, ông Nam được kết nạp Đảng tại Chi bộ nhà lao.
Trong những năm lao tù, “đập đá Côn Lôn”, ông không hề biết rằng mình đang đi trên con đường mà một người tù nổi tiếng năm 1885 đã đi qua. Người tù đó chính là cụ nội của ông-cụ Phạm Thận Duật (1825-1885), một quan đại thần triều Nguyễn trong phe chủ chiến nhưng phải tuân lệnh vua Tự Đức ký Hòa ước Patenôtre cầu hòa, rồi lại được vua Hàm Nghi ra lệnh chắp bút soạn chiếu Cần Vương. Trên đường hộ giá vua Hàm Nghi ra Tân Sở, Quảng Trị và ra Bắc vận động sĩ phu Bắc Hà hưởng ứng Phong trào Cần Vương kháng chiến, cụ Phạm Thận Duật bị Pháp bắt. Bất chấp mọi lời đe dọa, dụ dỗ hợp tác với chính phủ Nam Triều, cụ Phạm Thận Duật vẫn cự tuyệt, chấp nhận án tù biệt xứ. Trên đường đi đến nhà tù đảo Tahiti, cụ phải dừng lại một tháng tránh bão và chờ tàu trong nhà lao Côn Đảo. Như vậy, trong dòng họ Phạm ở Yên Mạc, ông Nam trở thành người tù chính trị thứ hai bị giam ở Côn Đảo.
Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, chiến sĩ Phạm Nam được trao trả về đất liền, người gầy "nhẹ như xác ve"... Rất may, đúng thời điểm ấy có cô gái con nhà tư sản trông thấy, động lòng thương, đưa ông về chăm sóc, phục hồi sức khỏe, rồi lấy làm chồng. Trong đám cưới, khách Hà Nội thì thầm bàn tán, cho rằng đó là một hôn lễ xuất phát từ lòng vị tha, tinh thần nhân đạo, không mấy "môn đương hộ đối". Cô dâu là con gái của nhà hàng bánh kẹo Tùng Hiên rất giàu có lúc đó. Bình luận như vậy thật ra rất thiếu cơ sở thông tin. Vì nhà hàng Tùng Hiên ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám đã là một cơ sở bí mật của Đảng. Nhiều chiến sĩ cách mạng như Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Minh Đạo đã được nuôi giấu ở đó. Ít người biết rằng, ông Nam và người bạn đời đến với nhau bằng tình yêu cách mạng.
Hoạt động tiếp trong ngành an ninh ít năm, ông Nam trở thành một trong số những chiến sĩ cảnh vệ đạt trình độ nghiệp vụ cao cấp. Năm 1959, ông được vinh dự bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad cùng đi trồng cây bồ đề Phật tổ trong chùa Trấn Quốc. Nhưng rồi, sau hơn 10 năm công tác trong ngành an ninh, do hậu quả của những năm tháng bị tra tấn, tù đày trong nhà tù thực dân, hai đầu gối bị cai tù dùng búa gõ tra tấn mỗi năm một đau nhức khiến sức khỏe ông ngày càng giảm sút. Hai tai ông nặng dần, thần kinh ông cũng theo thính lực, mỗi ngày một yếu, vì vậy, ông xin chuyển sang ngành bưu điện và làm việc cho đến lúc nghỉ hưu.



