PHẠM THỊ NGƯ – NGƯỜI MẸ ANH HÙNG CỦA BÌNH THUẬN
Sinh năm 1912 tại vùng Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, mẹ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm. Tuổi thơ của mẹ gắn với những ngày tháng lao động vất vả. Nhưng chính cuộc sống gian khó đã hun đúc ở mẹ nghị lực và lòng thương người. Lớn lên, mẹ lập gia đình với ông Bùi Dinh và có tám người con. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, quê hương Bình Thuận trở thành một trong những địa bàn diễn ra nhiều hoạt động kháng chiến. Gia đình mẹ Ngư sớm trở thành cơ sở cách mạng. Hai vợ chồng tích cực tham gia các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh. Mẹ còn đảm nhận công việc tổ trưởng tổ phụ nữ, vận động bà con đóng góp tiền bạc, thuốc men, lương thực và thực phẩm để giúp đỡ bộ đội.
Có những người phụ nữ bình dị đã trở thành những nhân vật đặc biệt bởi sự hy sinh thầm lặng và lòng yêu nước sâu sắc. Mẹ Phạm Thị Ngư là một trong những người như thế. Sinh năm 1912 tại vùng Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, mẹ xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm. Tuổi thơ của mẹ gắn với những ngày tháng lao động vất vả. Nhưng chính cuộc sống gian khó đã hun đúc ở mẹ nghị lực và lòng thương người.
Lớn lên, mẹ lập gia đình với ông Bùi Dinh và có tám người con. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, quê hương Bình Thuận trở thành một trong những địa bàn diễn ra nhiều hoạt động kháng chiến. Gia đình mẹ Ngư sớm trở thành cơ sở cách mạng. Hai vợ chồng tích cực tham gia các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh. Mẹ còn đảm nhận công việc tổ trưởng tổ phụ nữ, vận động bà con đóng góp tiền bạc, thuốc men, lương thực và thực phẩm để giúp đỡ bộ đội.
Ngôi nhà của mẹ cũng trở thành nơi che chở cán bộ, chiến sĩ. Những căn hầm bí mật được đào ngay trong khuôn viên gia đình trở thành nơi trú ẩn và điểm liên lạc của lực lượng cách mạng. Trong những năm tháng chiến tranh, công việc ấy vô cùng nguy hiểm, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến cả gia đình và cơ sở cách mạng bị phát hiện. Thế nhưng mẹ vẫn kiên trì bám trụ, âm thầm giúp đỡ cách mạng.
Năm 1952, người con trai cả của mẹ là Bùi Văn Thành, khi ấy mới 18 tuổi, gia nhập quân đội. Đến năm 1954, anh tập kết ra Bắc. Sau đó, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, các con của mẹ lần lượt tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1960, chồng mẹ qua đời. Một mình mẹ vừa chăm lo gia đình, vừa tiếp tục làm cơ sở cách mạng. Năm 1961, mẹ đưa người con trai thứ hai là Bùi Văn Trung lên căn cứ. Không lâu sau, mẹ nhận tin người con trai cả trở về miền Nam chiến đấu và hy sinh.
Nỗi đau mất con không làm mẹ gục ngã. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, mẹ tiếp tục làm giao liên, dẫn đường cho lực lượng cách mạng, vận động nhân dân tiếp tế và chăm sóc thương binh. Mẹ cũng tiếp tục nuôi giấu cán bộ, giữ liên lạc giữa các cơ sở cách mạng. Trong nhiều năm, mẹ cùng đồng bào vận chuyển lương thực, thực phẩm và thuốc men từ vùng dân cư ra căn cứ, góp phần bảo đảm hậu cần cho lực lượng kháng chiến.
Sự hy sinh của mẹ và gia đình là vô cùng lớn lao. Nhiều người con của mẹ đã hy sinh trong chiến tranh. Những mất mát ấy đã trở thành biểu tượng cho sự hy sinh của biết bao gia đình Việt Nam trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh.
Với những đóng góp đặc biệt cho cách mạng, ngày 6 tháng 11 năm 1978, mẹ Phạm Thị Ngư được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1994, mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ qua đời năm 2002.
Câu chuyện về Phạm Thị Ngư không chỉ là câu chuyện về một người mẹ chịu nhiều mất mát mà còn là câu chuyện về lòng yêu nước, sự kiên cường và tinh thần trách nhiệm với quê hương. Cuộc đời mẹ nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, ghi nhớ công lao của những người đã hy sinh cho độc lập dân tộc và sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đất nước.



