Phạm Thị Thanh
PHẠM THỊ THANH - NGƯỜI VỢ CẢ CỦA ÔNG BA QUỐC***Tên đầy đủ của bà là Phạm Thị Thanh, là chiến sĩ Việt Minh, cùng tham gia phá vụ án Ôn Như Hầu với ông Ba Quốc sau Cách mạng Tháng Tám. Năm 1949, ông bà lấy nhau rồi sinh được hai người con, nhưng vì nhiệm vụ ông phải vào Nam với một người vợ khác, là bà Ngô Thị Xuân. Nguyên do ông lấy bà Xuân là bởi lúc bấy giờ, hồ sơ nghi vấn ông là Việt Minh vẫn còn ở cơ quan công an của địch. Để vào Nam thực hiện nhiệm vụ với lý lịch “sạch”, ông đồng ý lấy bà Xuân, trở thành người nhà của Đàm Y để được xóa hồ sơ dễ dàng.
Câu chuyện “cho mượn chồng” được bà Thanh kể lại tường tận cho tôi nghe. Đó là vào một hôm, ông Trần Hiệu (Phó Giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo) đến gặp bà Thanh, nói: “Chỉ thị của Đảng và trực tiếp là Bác Hồ chỉ đạo ngành Tình báo phải làm đám cưới giả cho anh Đặng Trần Đức để hợp thức hóa thân phận trước khi nhận nhiệm vụ vào Nam, nên tổ chức yêu cầu phải xin ý kiến chị, nếu chị đồng ý thì mới làm đám cưới đó”.- Ông ấy bảo nếu tôi đồng ý thì mới làm. Tôi hẹn sau ba ngày sẽ trả lời. Khi ấy, tôi nghĩ nếu để chồng đi mà không có danh nghĩa công khai, không có thân thì không thể làm tròn trách nhiệm của Đảng, của Tổ quốc giao phó. Do đó hôm gặp lại tôi nói rõ việc gì có lợi cho Đảng, cho Tổ quốc thì anh cứ làm - Bà Thanh kể.Đồng ý cho chồng lấy vợ khác để đi vào Nam hoạt động cũng là lúc bà Thanh cùng các con chấp nhận điều tiếng gia đình có người bỏ theo địch đi vào Nam để đảm bảo an toàn cho ông Ba.Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị vào Nam, ông nội của chị Giang biết chuyện, xót con dâu và cháu nên bảo với bà Thanh: “Để tao xuống Hải Phòng bắt nó về”, nhưng bà Thanh can ngăn: “Thôi bố ạ, đó là công việc của nhà con!”.Nhưng, đến năm 1975 thống nhất rồi ông Ba vẫn chưa trở ra Bắc.Lúc ấy, bà Thanh mới kể khổ:- Ông ấy ra đây tôi không cần gì hết, ông ấy là Anh hùng hay là gì thì tôi cũng không cần, tôi chỉ cần ông ấy ở đây thôi, nhà tôi nghèo lắm nhưng tôi vẫn nuôi được ông ấy! - Giọng bà kiểu như người vợ trẻ nói với chồng mới cưới.Xong bà đưa tôi xem lá thư của ông ấy vừa gửi, có đoạn: “Anh cũng rất muốn về với gia đình nhưng đất nước đang chiến tranh, bao người hy sinh, anh không thể...”.Câu chuyện của bà quanh đi quẩn lại vẫn là thắc mắc: “Sao ông ấy không về”. Bà nói với tôi mong muốn duy nhất của bà là ông quay ra đây sống với mình. Đấy cũng là câu chuyện luôn luôn diễn ra mỗi lần tôi ngồi với cả ông và bà sau này, bà luôn nhắc chuyện ấy, còn ông chỉ im lặng cười.Trong lần gặp đầu tiên ấy, tôi ấn tượng với một tình tiết là bà đưa gói mỳ chính ông Ba gửi về cho người con rể - anh Sơn, rồi bảo anh:- Con chia gói mỳ chính này ra rồi gửi cho nhà chú Hoan một phần, một phần cho anh Mùi (ân nhân của gia đình ông Ba mà tôi sẽ kể sau - TG), một phần cho nhà con, còn lại để vào bếp.Gói mỳ chính 2,5 lạng mà bà bảo anh Sơn chia bốn phần!Tôi không sao quên được gói mỳ chính chia tư mà ông Ba gửi ra cho bà Thanh, nó “nặng” hơn rất nhiều so với những gì mà ông gửi. Trao nhận những món quà từ phương xa thì tôi đã thấy nhiều, nhưng tôi không thấy cái gì giống như gói mỳ chính chia tư của bà Thanh ngoài Bắc. Sau này cũng nhiều lần bà Thanh làm như thế, bà trân trọng món quà từ ông Ba và ông cũng hiểu điều đó.Từ lần đó, mỗi khi ra Hà Nội tôi đều đến nhà thăm bà Thanh. Hầu như tôi lựa đến vào buổi chiều, giờ đó đến không thể không ăn cơm, nếu mâm cơm có anh Sơn, anh Thành thì không thể không uống rượu. Tự nhiên tôi như một thành viên trong gia đình, gần như mọi chuyện từ chuyện lợn, gà, hay chuyển nhà, đều có ý kiến của tôi.Với tôi, câu chuyện bà Thanh và ông Ba vô cùng đặc biệt. Bà đã phải nuốt nước mắt vào trong để đồng ý cho chồng mình đi lấy vợ trong quãng thời gian khốn khó, bà đồng ý cho tổ chức nói dối để ông yên tâm, rằng bà làm thư ký công đoàn ở Nhà máy Dệt 8/3, rằng chị Giang thì đi học đại học, còn anh Thành thì đi học đóng tàu ở Ba Lan. Nhưng thực tế không phải “trải hoa hồng” như thế.Tôi hỏi bà:- Khi biết chuyện này, cô có trách tổ chức không?- Mới đầu nghe chuyện thì cũng có trách, có buồn. Nhưng sau nghĩ lại thì phải cảm ơn tổ chức ấy chứ, vì đó là để giữ bí mật cho ông ấy. Khổ mấy tôi cũng chịu được, miễn là ông ấy sống và hoàn thành nhiệm vụ trở về.Bà cũng bảo với tôi:- Cô không oán trách gì hết, không oán trách gì tổ chức, không trách gì ông ấy, để yên cho ông ấy làm việc, chỉ có một mong muốn là thôi già rồi, thực tâm rất muốn ông ấy về hưu.Thậm chí có lần bà còn bảo tôi:- Cháu lên thay ông ấy nhanh đi, để ông ấy về đây...Bà chỉ có một mong muốn và kiên trì nói đến cuối đời, không có lần nào gặp mà bà không nói về chuyện “ông phải về đây với tôi”.Nhưng, ông chẳng về được với bà, trừ tháng cuối cùng trước khi bà mất.



