Phạm Văn Đồng
1906 – 2000) là nhà cách mạng kiên trung, nhà ngoại giao xuất sắc, và là Thủ tướng tại vị lâu nhất lịch sử Việt Nam (32 năm từ 1955 đến 1987). Ông là học trò xuất sắc, người cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Thân thế và Học vấnTên gọi: Bí danh là Tô, thể hiện sự giản dị và can trường trong hoạt động bí mật.Ngày sinh: 1 tháng 3 năm 1906.Quê quán: Xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.Gia thế: Xuất thân trong một gia đình trí thức Nho học, cha ông từng làm quan Ngự tiền Văn phòng triều đình Huế.Học vấn: Học tại trường Quốc học Huế, sớm tham gia các phong trào bãi khóa của học sinh yêu nước.

Đồng chí Phạm Văn Đồng 1906 – 2000) là nhà cách mạng kiên trung, nhà ngoại giao xuất sắc, và là Thủ tướng tại vị lâu nhất lịch sử Việt Nam (32 năm từ 1955 đến 1987). Ông là học trò xuất sắc, người cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thân thế và Học vấn
Tên gọi: Bí danh là Tô, thể hiện sự giản dị và can trường trong hoạt động bí mật.
Ngày sinh: 1 tháng 3 năm 1906.
Quê quán: Xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Gia thế: Xuất thân trong một gia đình trí thức Nho học, cha ông từng làm quan Ngự tiền Văn phòng triều đình Huế.
Học vấn: Học tại trường Quốc học Huế, sớm tham gia các phong trào bãi khóa của học sinh yêu nước.
Sự nghiệp Cách mạng và Ngoại giao
Tham gia Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (1926): Sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc chủ trì.
Tù đày tại Côn Đảo (1929 – 1936): Bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày ra nhà tù Côn Đảo.
Trưởng phái đoàn Hội nghị Geneva (1954): Lãnh đạo phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán, buộc Pháp công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam.
Ký kết Hiệp định: Đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tham gia ký kết nhiều văn kiện ngoại giao quan trọng tạo bước ngoặt lịch sử.
Lãnh đạo Chính phủ (1955 – 1987)
Chức vụ: Đảm nhiệm vị trí Thủ tướng Chính phủ (giai đoạn đầu gọi là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, sau đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng).
Vai trò: Chèo lái con thuyền kinh tế, xã hội miền Bắc chi viện cho miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, và điều hành đất nước giai đoạn đầu thống nhất.
Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương: Từ năm 1987 đến 1997, ông tiếp tục đóng góp ý kiến cho Đảng với vai trò Cố vấn.
Di sản cuối đời
Ngày mất: Qua đời ngày 29 tháng 4 năm 2000 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.
Nơi an nghỉ: An táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.
Vinh danh: Được Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng. Tên của ông được đặt cho nhiều đại lộ, đường phố lớn và trường đại học tại Việt Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.



