Bài viết

Phạm Văn Đồng một trong những nhà lãnh đạo nổi bật của Việt Nam trong thế kỷ 20

Quảng Ngãi02/10/2026Xã Phước An (Đoàn xã Phước An)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Phạm Văn Đồng một trong những nhà lãnh đạo nổi bật của Việt Nam trong thế kỷ 20

Phạm Văn Đồng (1 tháng 3 năm 1906 – 29 tháng 4 năm 2000), bí danh Anh Tô, là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Việt Nam, người đã đóng góp lớn cho sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước.

Ông sinh ra tại Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi trong một gia đình trí thức, nơi ông sớm được tiếp thu truyền thống văn hóa của quê hương và gia đình. Cha ông là cụ Phạm Hiển, một nhà nho yêu nước, và mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Thái, một người phụ nữ đảm đang và kiên cường.

Từ nhỏ, Phạm Văn Đồng đã thể hiện năng khiếu học tiếng Pháp khi theo học trường Quốc học Huế, giúp ông nắm bắt nền tảng văn học và triết học phương Tây.

Phạm Văn Đồng bắt đầu hoạt động cách mạng vào năm 1925 khi tham gia phong trào bãi khóa của học sinh, sinh viên để tang Phan Châu Trinh, một chí sĩ yêu nước nổi tiếng. Năm 1926, ông sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Năm 1929, khi chỉ mới 23 tuổi, ông được cử vào Kỳ bộ Nam Kỳ và sau đó vào Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 7 cùng năm, thực dân Pháp bắt ông và kết án 10 năm tù đày tại Côn Đảo.

Sau khi ra tù năm 1936 nhờ cuộc vận động ân xá của Mặt trận Bình dân Pháp, Phạm Văn Đồng tiếp tục hoạt động cách mạng tại Hà Nội.

Năm 1940, ông bí mật sang Trung Quốc cùng với Võ Nguyên Giáp, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và được Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) giao nhiệm vụ về nước xây dựng căn cứ địa gần biên giới Việt – Trung.

Năm 1945, tại Quốc dân Đại hội Tân Trào, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ủy ban Thường trực gồm 5 người thuộc Ủy ban Dân tộc giải phóng, chuẩn bị cho Cách mạng tháng 8.

Phạm Văn Đồng giữ chức Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến 1976, và sau đó là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến 1987.

Trong suốt 32 năm giữ cương vị Thủ tướng, ông đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại.

Ông được biết đến là người học trò và cộng sự thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp gio dục và văn hóa, cũng như trong công tác đối ngoại, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Phạm Văn Đồng đã để lại một di sản lớn lao, được nhớ đến như một nhà lãnh đạo kiên định và đầy tâm huyết với đất nước.

Ông trở thành Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 20 tháng 9 năm 1955 và tiếp tục đảm nhiệm vai trò Thủ tướng của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau khi thống nhất đất nước) từ năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu vào ngày 18 tháng 6 năm 1987.

Trong suốt thời gian này, ông cũng liên tục làm đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1987, góp phần quan trọng vào sự phát triển và ổn định của đất nước trong giai đoạn đầy biến động.

Trong Chiến tranh chống Mỹ, Phạm Văn Đồng nổi bật với vai trò đại diện của miền Bắc Việt Nam, thường xuyên tiếp xúc với các nhà ngoại giao và nhà báo nước ngoài. Ông có mối liên hệ chặt chẽ với chính phủ Trung Quốc, quốc gia đã cung cấp viện trợ quan trọng cho cuộc xung đột.

Năm 1963, ông tham gia vào “vụ Maneli,” một nỗ lực hòa bình thông qua ủy viên Ba Lan của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế.

Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự quan tâm đến kế hoạch hòa bình kêu gọi liên bang hai miền Việt Nam, và đề nghị một lệnh ngừng bắn để trao đổi than từ miền Bắc lấy gạo từ miền Nam, phản ánh tình hình thiếu lương thực ở miền Bắc vào thời điểm đó.

Từ năm 1964 đến 1965, Phạm Văn Đồng tham gia vào “Sứ mệnh trên biển,” gặp gỡ nhà ngoại giao J. Blair Seaborn, ủy viên Canada của Ủy ban Quốc tế về Giám sát và Kiểm soát.

Ngày 8 tháng 6 năm 1964, ông gặp Seaborn tại Hà Nội và nhận được đề nghị từ Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson về viện trợ kinh tế trị giá hàng tỷ đô la và công nhận ngoại giao nếu Bắc Việt Nam chấm dứt hỗ trợ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tuy nhiên, Phạm Văn Đồng từ chối, yêu cầu Mỹ ngừng hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa và để Việt Cộng tham gia vào một chính phủ liên minh ở Sài Gòn. Những nỗ lực này phản ánh quyết tâm và tầm nhìn chiến lược của Phạm Văn Đồng trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước.

Trong suốt thời gian làm Thủ tướng, Phạm Văn Đồng đã góp phần quan trọng vào các chiến dịch quân sự cũng như các chính sách xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, và giáo dục của đất nước. Ông đã lãnh đạo Việt Nam vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất của chiến tranh và thời kỳ sau chiến tranh, để lại di sản lớn lao trong lịch sử dân tộc.

Sau khi đất nước thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, ngày 19 tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV, Phạm Văn Đồng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị. Trước những khó khăn của đất nước, ông luôn trăn trở và tìm kiếm giải pháp để cải thiện tình hình kinh tế.

Phạm Văn Đồng đã chỉ đạo cán bộ đi khảo sát mô hình “khoán chui” trong nông nghiệp tại Hải Phòng, một biện pháp cải tiến nhằm tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Ông trực tiếp làm việc với lãnh đạo địa phương để đánh giá những ưu và khuyết điểm của cơ chế này.

Kết quả từ các cuộc khảo sát đã trở thành tiền đề cho Chỉ thị 100-CT/TW của Đảng về khoán hộ trong nông nghiệp, ban hành vào tháng 1 năm 1981, giúp nâng cao năng suất và đời sống của người nông dân.

Đồng thời, ông cũng ủng hộ Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng các biện pháp mới trong sản xuất công nghiệp, dẫn đến việc ban hành các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ vào năm 1981, mở ra cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Những biện pháp này đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện nền kinh tế và đặt nền móng cho công cuộc Đổi Mới sau này.

Tại Đại hội Đảng lần thứ V vào ngày 30 tháng 3 năm 1982, Phạm Văn Đồng tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị. Trong nhiệm kỳ của mình, ông và Nguyễn Văn Linh đã giải oan cho đạo diễn Trần Văn Thủy trong sự kiện liên quan đến bộ phim tài liệu “Hà Nội trong mắt ai”, một tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống xã hội thời bấy giờ.

Sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời vào ngày 10 tháng 7 năm 1986, Phạm Văn Đồng cùng các nhà lãnh đạo gấp rút chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ VI diễn ra vào tháng 12 năm 1986.

Ngày 18 tháng 12 năm 1986, ông cùng với Trường Chinh và Lê Đức Thọ tuyên bố từ chức và không ứng cử vào Bộ Chính trị khóa VI hay Ban Chấp hành Trung ương khóa VI.

Ba ông sau đó được bổ nhiệm vào Hội đồng cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của đất nước trong vai trò mới.

Những quyết định và đóng góp của Phạm Văn Đồng đã góp phần quan trọng vào việc định hình đường lối và phát triển của Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn