PHẠM VĂN NGHỊ, THẦY GIÁO CHIẾN SĨ
PHẠM VĂN NGHỊ, THẦY GIÁO CHIẾN SĨ
Ngay khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược Đà Nẵng (1858) trong phong trào giết giặc cứu nước của đân tộc, Phạm Văn Nghị lúc đó đang làm Đốc học tỉnh Nam Định, đã nổi lên như một trong những chiến sĩ tiên phong, dâng sớ chống giặc (Trà Sơn kháng sớ) và tổ chức đạo quân sĩ tử tình nguyện vào Đà Nẵng đánh đuổi quân giặc khỏi bán đảo Sơn Trà.
Phạm Văn Nghị sinh năm 1805, hiệu là Nghĩa Trai, người xã Tam Đăng, huyện Đại An tỉnh Nam Định (nay thuộc thôn Tam Quang, xã Yên Thắng huyện ý Yên tỉnh Nam Định). Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, ông đã bền bỉ học tập và đã đậu Hoàng giáp năm 1838. Sau khi được bổ làm Tri phủ Lý Nhân rồi Biên tu Quốc sử quán trong 12 năm, đến năm 1850, ông xin cáo quan về nhà mở trường dạy học. Ông đã tận tuỵ đào tạo được hàng trăm sĩ tử trong đó có nhiều người hiển đạt cao như: Vũ Hữu Lợi đỗ tiến sĩ 1874, Trần Bích San đỗ đầu thi Hương, thi Hội, thi Đình (1864-1865), Lã Xuân Oai đỗ Phó bảng 1865, Đỗ Huy Liêu Đình nguyên tiến sĩ 1887, Trần Văn Gia, Phạm Nhân Lý, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn Cao...Hầu hết những học trò của ông đều theo gương thầy, tham gia nghĩa quân chống pháp, nhiều người đã trở thành lãnh tụ của phong trào Cần Vương như Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn Cao…
Dạy học được 7 năm, đến năm 1857, ông lại bị triều đình gọi ra làm Đốc học tỉnh Nam Định. Năm 1858, giặc Pháp gây hấn ở Đà Nẵng, ông đã dâng sớ chống giặc ở Sơn Trà (Trà Sơn kháng sớ). Được vua Tự Đức cho phép, ông đã lập một đạo quân sĩ tử gồm 365 người gồm những học trò và thanh niên yêu nước tình nguyện đi giết giặc ở Đà Nẵng. Sau mấy tháng luyện tập, ngày 8 tháng2 năm Canh Thân (1860) đoàn quân do Đốc học Phạm Văn Nghị cầm đầu đã xuất phát từ Nha Học chính tỉnh Nam Định thẳng đường Nam tiến. Trong buổi tiễn đưa, Phạm Văn Nghị làm bài thơ ''Sớ trình vãng Quảng Nam quân thứ, sắc chỉ, dữ tình dương yến hội'' (Dâng sớ xin đi quân thứ Quảng Nam, được chỉ của vua, cùng các quan trong tỉnh dự tiệc tiễn), nguyên văn bằng chữ Hán, bản dịch như sau:
Tiệc đưa đào chuốc chén,
Xuân đẹp cảnh càng say,
Miền biển, giặc càn rỡ
Đất bằng, bụi chẳng bay.
Giận sôi, tóc dựng mũ,
Bút gác, há thua ai,
Mong sớm tan giặc dữ
Tờ ngọc nâng trên tay.
(Bản dịch của Nguyễn Văn Huyền)
Bài thơ đã nói lên khí phách lẫm liệt của người chiến sĩ yêu nước không khác gì như Lạn Tương Như đi dâng ngọc giết vua Tần. Trên đường hành quân vào Đà Nẵng, với tâm hồn nhà thơ, chiến sĩ, ông đã làm bài thơ ''Trên đường hành quân tự thuật'' tạm dịch một đoạn:
Ba trăm quân tinh nhuệ, một lá cờ tướng.
Nhờ thanh uy của người, hiểm trở cũng thành bằng phẳng.
Suốt đời tâm niệm một niềm trung hiếu.
Tự nhiên non sông sẽ giúp đỡ ta,
Ta nay đã năm mươi sáu tuổi rồi.
Tuy đau ốm nhiều nhưng tấm thân vẫn còn có ích.
Có người sẽ cười ta ném bút để lập công.
Thực ra lòng ta chỉ biết có vua và cha mà thôi.
Khi vào đến kinh đô thì được biết tin quân giặc đã rút khỏi Đà Nẵng trước đó một ngày, ông đã nói lên lòng căm thù của cả dân tộc ta trong bài Thoái lỗ ca (Bài ca đuổi lui giặc), có đoạn viết:
Quỷ trắng ngu xuẩn bỗng càn rỡ
Dám trái đạo trời, dámgây binh lửa,
Hai năln chiếm đóng một vùng biển
Giởgiói con lừa, khoe súng tầu.
Dân chúng căm hờn quân xâm lược,
Tướng sĩ tình nguyện xông lên đầu...
(Bản dịch của Nguyễn Văn Huyền)
Sau này trong Tự ký, Phạm Văn Nghị đã viết về cuộc hành quân cứu nước đó như sau: ''Tôi là kẻ thư sinh chưa quen việc quân, từ khi giặc Tây gây hấn... Tấm lòng phẫn kích của tôi không thể dung được, những muốn lao vào giặc, ném bút, gắng sức, khiến cho anh hùng hào kiệt trong nước nghe thấy mà nổi dậy, người đông thì việc thành, đặng quét sạch lũ giặc... Nay nhờ hồngphúc nước nhà, giặc ở sơn Trà đã rút, nhà vua lại có ý thương tổn nhiều bệnh, đó là trời và vua không nỡ để tôi nhọc mệt về việc binh lửa...'' Ông được vua cho lui binh, lại được cử giữ chức Đốc học Nam Định rồi sau đó là Hiệp lý quân vụ (chức quan võ) đóng giữ đồn Binh Hải, phòng thủ Nam Định, vì xông pha mưa nắng nhiều nên ông lại bị mắc bệnh sốt rét, phải xin nghỉ việc quân về quê chữa bệnh. Đến năm 1867, ông lại được cử giữ chức Thương Biện đóng quân ở đồn Hà Cát, phòng giữ cửa biển Ba Lạt. Trong những năm 1870, 1871, bọn thổ phỉ tràn vào cướp phá giết hại dân lành ở tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, ông đã cùng con và học trò đem quân đi dẹp.
Năm 1873 thực đân Pháp đem quân đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh xung quanh, Phạm Văn Nghị đóng quân ở đồn Dốc Bộ, đã chiêu mộ thêm dũng sĩ, luyện tập quân lính đề phòng giữ thành Nam. Giặc cho tầu chiến kéo đến đánh phá Nam Định, quân lính của ông đã bắn gẫy cột buồm và giết được 3 tên giặc nhưng rồi nghĩa quân bị thua phải bỏ chạy. Giặc Tây treo giải thưởng bắt sống ông. Trong tình thế rất gấp không muốn để rơi vào tay giặc, ông đã nhảy xuống sông tuẫn tiết, nhưng các nghĩa tử đã cứu sống ông và đưa đi trốn. Được ít lâu, ông lại tập hợp được tới 7000 quân lính, cùng các sĩ phu yêu nước đóng quân ở đồn An Hoà, phòng thủ 3 huyện Phong Doanh, ý Yên và Thanh Liêm chặn đánh Pháp và tay sai. Ông lại được triều đình cử giữ chức Thương Biện để hiểu đụ sĩ phu và dân chúng đoàn kết không mắc mưu chia rẽ của giặc.
Đến tháng giêng năm Giáp Tuất (1874), do bị bệnh nhiều, việc quân sự lại nặng nhọc, sức khoẻ sa sút nên ông đã xin về hưu. Ông mất năm 1881, thọ 76 tuổi. Nghe tin ông mất, các văn thân, sĩ phu tỉnh Nam đã làm hàng trăm câu đối viếng, trong đó có câu (đã dịch): ''Sông DọcBộ một trận hiên ngang, tóc bạc da mồi quên sống thác. Đình Côi Sơn ngàn năm rạng rỡ, lòngson dạ sắt diệt xâm lăng''.
Tống Duy Tân là học trò và là lãnh tụ nghĩa quân đã viếng: ''Tiên sinh lo việc trước người đời, thân thể nổi chìm ôi mấy độ. Đệ tử coi thầy như thân phụ, mất con chung thuỷ mãi trăm năm''.
Bên cạnh sự nghiệp của người thầy, người chiến sĩ, ông còn là một nhà văn. Sáng tác của Phạm Văn Nghị khá phong phú, tập ''Tùng Viên văn tập'' đã ghi lại thơ văn từ khi ông thành đạt đến lúc mất. Tập “Tự ký” là một tập nhật ký ghi lại hành trạng của ông có tính chân thực cho người sau biết được tâm sự, tư tưởng của tầng lớp sĩ phu thời đó. Thơ văn của ông thấm nhuần tư tưởng trung hiếu trong hoàn cảnh nước nhà bị giặc xâm lăng tàn phá, được thể hiện ở lòng căm thù sâu sắc, khí phách kiên trung bất khuất, ý chí quyết chiến không đội trời chung với kẻ thù và ở niềm tin vững chắc vào tương lai của dân tộc.
''Lũ giặc yêu ma dám quấy càn
Để ta khó nhọc phải ra quân
Thấy chăng trời lạnh vừng hồng rạng
Điềm báo thanh bình, tiết lập xuân''
(Bài thơ làm tại nhà công quán Hải Dương)
Nguyễn Văn Huyền dịch
Phạm Văn Nghị, người thầy yêu nước tiêu biểu, đã đào
tạo nên những học trò thấm nhuần đạo lý, chính nghĩa, yêu nước, thương dân, nghe lời và nghe thầy đứng lên cầm vũ khí chiến đấu hy sinh chống giặc Pháp xâm lược, góp phần vào trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng. Xếp bút nghiên, cầm vũ khí, rèn luyện quân sự, xung phong đi chiến đấu ngay khi giặc Pháp nổ tiếng súng xâm lược đầu tiên ở Đà Nẵng, chuyển sang làm quan võ, đóng dồn cầm quân phòng thủ thành nam, giữ vững khí tiết khi bị thất bại. Phạm Văn Nghị thật sự là hình ảnh ngời sáng của người chiến sĩ kiên trung, cảm tử vì Tổ quốc, mang trongmình dòng máu của một dân tộc anh hùng bất khuất, xứng đáng để các thế hệ đời đời noi gương và học tập.



