Mẹ Việt Nam Anh hùng

Phần 1: Ký ức của mẹ.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Kim, Sinh năm 1931 tại Vũ Thư (Thái Bình), từ thuở nhỏ, mẹ Nguyễn Thị Kim theo gia đình tản cư lên Lạng Sơn. Mảnh đất biên cương đã se duyên mẹ với ông Nguyễn Văn Hiển, khi ông đang hoạt động cách mạng tại khu vực Lạng Sơn. Vào tháng 5-1971, người con trai cả của mẹ lên đường nhập ngũ; một năm sau, người con trai thứ tiếp bước anh trai tiến về chiến trường miền Nam. Hai anh đã dành trọn tuổi xuân cho kháng chiến. Hơn 50 năm trôi qua, bình yên đã trở lại trên nh

Thái Nguyên13/04/2026Lâm Thu Trang (Đoàn xã Na Rì)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ký ức của mẹ

Sinh năm 1931 tại Vũ Thư (Thái Bình), từ thuở nhỏ, mẹ Nguyễn Thị Kim theo gia đình tản cư lên Lạng Sơn. Mảnh đất biên cương đã se duyên mẹ với ông Nguyễn Văn Hiển, khi ông đang hoạt động cách mạng tại khu vực Lạng Sơn.

Giai đoạn những năm 1971-1973, khi chiến trường miền Nam diễn biến ác liệt, hòa chung khí thế lớp lớp thanh niên yêu nước miền Bắc lên đường chiến đấu chi viện cho tiền tuyến, mùa hè năm 1971, tròn 18 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Ngọc Quý (sinh năm 1954) tình nguyện lên đường nhập ngũ. “Mẹ ạ, con thương mẹ lắm, nhưng con là thanh niên, con phải đi. Đó là lời cuối cùng mà con nói với tôi trước khi lên đường vào Nam chiến đấu. Ai ngờ, giây phút chia tay cũng là lần cuối từ biệt. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết con đã nằm lại nơi đâu”, mẹ Kim nhớ lại trong niềm rưng rưng xúc động. Nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo in hằn dấu vết thời gian.

Khi hai anh trai xông pha nơi chiến tuyến, bà Nguyễn Thị Hợi còn rất nhỏ, nhưng dáng vẻ điển trai, hiền lành của các anh vẫn luôn in đậm trong tâm trí. Bà kể: “Ngày 20-5-1971, anh cả nhập ngũ. Tôi nhớ mãi dáng vẻ hân hoan của anh hôm ấy. Trước khi đi, anh dặn dò các em phải chăm ngoan học giỏi, đoàn kết, yêu thương nhau, giúp anh chăm sóc cha mẹ. Cả nhà chúng tôi ôm chầm lấy nhau bịn rịn. Anh hai bế tôi, vẫy tay thật lâu, cho đến khi bóng anh và đồng đội khuất hẳn”.

Sau khi con trai cả ra chiến trường, ngày ngày mẹ Kim vẫn chăm chỉ làm việc tại Hợp tác xã nông màu, ngóng chờ tin tức thời sự về chiến tranh. Mỗi khi chiều xuống, mẹ lặng lẽ thở dài. Nhiều đêm khi cả nhà đã ngủ say, nước mắt mẹ rơi ướt đẫm gối vì “lo”, vì “nhớ”, chỉ mong chiến tranh sớm kết thúc và con mẹ bình an thắng trận trở về. Nỗi trống vắng ngày càng lớn dần lên khi mẹ biết tin con trai thứ hai cũng đang khao khát được tiếp bước anh ra trận, giành lấy hòa bình cho dân tộc, giữ gìn bình yên cho nhân dân.

Tin từ chiến trường dội về, cuộc chiến ngày càng căng thẳng với những trận quần thảo, ném bom ác liệt của không quân Mỹ ở khu vực miền Nam và trên tuyến đường Trường Sơn. Điều đó thôi thúc lòng căm thù giặc của chàng trai trẻ Nguyễn Văn Bích tại quê nhà. Anh nung nấu ý chí chiến đấu, viết đơn xin nhập ngũ bằng máu để được vào quân ngũ, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Ngày 19-5-1972, Nguyễn Văn Bích phấn khởi tạm biệt gia đình Nam tiến, gia nhập Đoàn 5046 KHG, hoạt động tại mặt trận phía Nam. Mùa xuân năm 1973, trong một trận rải bom của không quân Mỹ, khi đang cùng đồng đội hái rau rừng, chiến sĩ Nguyễn Văn Bích đã anh dũng hy sinh. Máu của anh hòa vào đất mẹ, tiếp thêm sức sống cho những cánh rừng thêm xanh tốt, chở che đồng đội tiếp tục chiến đấu.

“Tin dữ về đến nhà, nỗi đau như xé toạc lòng mẹ. Lần này, mẹ không còn lén khóc nữa, tôi cũng ôm mẹ, khóc òa. Chiến tranh tàn khốc như thế, mẹ sợ rằng mình mất đi đứa con thứ hai. Bố tôi dù đã rời xa quân ngũ, ông vẫn mang trọn tinh thần người lính Bộ đội Cụ Hồ, ông kiên định khích lệ con trai xung trận”.

Còn về liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quý, thời gian đầu, cứ vài tháng gia đình lại nhận được thư của anh. Những lá thư chỉ là những mẩu giấy nhỏ, nhăn nhúm, báo tin anh vẫn khỏe, dường như là niềm động lực để mẹ Kim tiếp tục mạnh mẽ sống, nhưng rồi những lá thư cũng thưa dần.

Con trai cả của mẹ Kim, Nguyễn Ngọc Quý nhập ngũ năm 1971. Gia đình không nhận được tin cụ thể về ngày anh hy sinh, chỉ biết anh đã nằm lại đâu đó tại mặt trận phía Nam, Quân khu H. Sau ngày giải phóng, Nhà nước xác nhận ngày 20-3-1975 là ngày anh hy sinh. Cách đây khoảng mười năm, sau khi nghỉ hưu, bà Nguyễn Thị Hợi và gia đình nhiều lần đến các tỉnh thuộc địa bàn chiến khu xưa, cố gắng tìm lại mộ phần liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quý nhưng vẫn bặt vô âm tín. Bà Hợi kể: “Khi tôi đến địa phận Thành cổ Quảng Trị hỏi thăm thông tin, người dân ở đó nhiệt tình lắm, có thông tin gì sẵn sàng kể cho mình. Một người địa phương nói với tôi, trước sự tàn phá, hủy diệt điên cuồng của địch, có những đơn vị nằm lại dưới lòng sông. Đến giờ, sông Thạch Hãn vẫn còn nhiều chiến sĩ chưa được tìm thấy. Có thể anh tôi… cũng đã nằm lại lòng sông ấy”.

Trên ban thờ nhỏ trong căn nhà cấp bốn đơn sơ, di ảnh liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quý (1953-1975) và liệt sĩ Nguyễn Văn Bích (1954 -1973) với gương mặt trẻ trung, khôi ngô, ánh mắt sáng đầy lý tưởng là những kỷ vật duy nhất còn sót lại của gia đình. Hai anh đã mãi mãi ở lại tuổi hai mươi - độ tuổi đẹp nhất của đời người để dành trọn thanh xuân cho Tổ quốc. Trên bức tường, những tấm Bằng Tổ quốc ghi công và Huân chương Kháng chiến được treo ngay ngắn, trang trọng là những chứng tích của một thời lửa đạn. Đó là Bằng Tổ quốc ghi công, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Ba, Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Quý (hy sinh ngày 20-3-1975); Bằng Tổ quốc ghi công, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Ba của liệt sĩ Nguyễn Ngọc Bích (hy sinh ngày 2-2-1973); cùng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì của ông Nguyễn Văn Hiển vì những đóng góp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn