Bài viết

Phan Bá Vành

TP. Hồ Chí Minh20/10/2026Xã Tân Khai (Đoàn xã Tân Khai)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821-1827) là cuộc khởi nghĩa nông dân kéo dài nhất, phạm vi ảnh hưởng rộng nhất do Phan Bá Vành (thường gọi là vua Ba Vành) lãnh đạo nhằm chống lại đường lối cai trị của nhà Nguyễn.

Ngày 15 tháng 2 năm Đinh Hợi (1827) quan đại thần Nguyễn Công Trứ theo lệnh vua dốc toàn bộ lực lượng thủy bộ tấn công bốn mặt vào căn cứ Trà Lũ, các mũi chính trên bộ có tượng binh, hỏa pháo đi kèm, pháo bắn ra ào ạt, đạn nổ khắp nơi, voi chiến đi đầu gầm thét. Nghĩa quân bị bao vây đánh cả phía trước lẫn phía sau, không đủ sức chống đỡ phải lui dần và tan rã. Quân triều đình tiến đến đâu chúng phá sạch đốt sạch, nhà cửa ruộng đồng đều bị san phẳng, khói lửa bốc mù mịt suốt mấy ngày đêm. Nhân dân Trà Lũ bị dìm trong biển máu, hàng nghìn người bị giết và vùi thây trên đồng (sau này gọi là đồng Mả), hơn 800 nghĩa quân bị bắt giải về kinh xử tội, trong đó có hơn 300 người là phụ nữ.

Trần Văn Đáng (tên thường gọi là Hai Đáng) là Chưởng tả quân của Phan Bá Vành. Ông có sức khoẻ hơn người, võ nghệ tài ba, khiên đao lừng lẫy, sở trường bơi lặn như thuồng luồng. Thủ lĩnh Phan Bá Vành xem Hai Đáng là trợ thủ đắc lực và là chỗ dựa cho nghĩa quân vì “Dinh điền Trà Lũ” vốn là vùng đất do cụ tổ nhà Hai Đáng là Trần Chính Niệm (một viên tùy tướng dưới trướng Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn) khai phá lập nên và sau được vua Lê Thánh Tông ban tước “Đông A Diễn Ấm Xuân Sinh Chi Hầu”.

Trong trận chiến cuối cùng (1827), thủ lĩnh Phan Bá Vành bị thương nặng vào chân. Hai Đáng đã cõng chủ tướng chạy thoát ra ngoài vòng vây, chạy băng qua các bãi lau sậy và giấu ông vào bãi sú vẹt Hoành Nha, rồi trở lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Sách “Trà Lũ xã chí” đã viết về ông Hai Đáng như sau: "Hai Đáng cõng Phan Bá Vành chạy băng băng trên ruộng lầy, hai giải khố của ông bay thẳng căng về sau không lúc nào chùng."

Bà Vũ Thị Hinh, vợ của ông Hai Đáng cũng là nữ tướng trong nghĩa quân Phan Bá Vành, bà chuyên lo hậu cần và huấn luyện quân sĩ. Bà rất giỏi võ. Thời trẻ có lần đi chợ, bị một đám đàn ông trêu ghẹo sàm sỡ, bà rút dao thịt luôn 4 anh.

😛

Trong trận chiến cuối cùng, bà đã chém bay thủ cấp một tên phản bội khi tên này thúc trống báo hiệu cho quân triều đình biết lúc nghĩa quân tiến từ Thái Bình sang Trà Lũ. Sau khi khởi nghĩa Phan Bá Vành thất bại, bà cũng bị bắt cùng chồng.

Sau khi cuộc chiến kết thúc, để tránh triều đình truy bắt trả thù, nhiều người dân Trà Lũ phải thay tên đổi họ ly tán khắp nơi, chạy lên rừng, xuống biển để tìm nơi lạc nghiệp an thân. Một số dân xin tòng giáo, được giáo sĩ Emmanuel Riano gom lại lập ra thôn Phú Nhai, hình thành ra xứ đạo Phú Nhai (sau trở thành trung tâm truyền giáo lớn nhất Đông Dương). Và 2/3 số dân còn lại buộc phải theo Nguyễn Công Trứ đi lấn biển khai hoang, lập ra hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Trong đó vợ chồng ông bà Trần Văn Đáng - Vũ Thị Hinh do sẵn có uy tín trong nhân dân nên tiếp tục được đại thần Nguyễn Công Trứ trọng dụng đưa vào làm cán bộ cốt cán (cụ Trứ mưu cao thôi rồi nhả), và về sau ông bà đã lập được nhiều công trạng trong việc mở đất lập làng, được triều đình ban thưởng cho nhiều lộc lá. Gia tộc cụ Trần Văn Đáng về sau còn được vua Thiệu Trị ban cho bức hoành phi ghi 9 chữ là: Đại Thành Chí Đạt An Quốc Nghĩa Hồng Ân. (Tiếc là bức hoành phi về sau bị giặc Pháp đốt mất). Hậu duệ của cụ Đáng về sau có anh cháu lên ngôi quân vương và vô số anh chị khác làm quan nhớn bé trong triều đình đương đại.

Đến năm 1833 triều đình nhà Nguyễn mới ra chỉ dụ xóa tội cho nhân dân Trà Lũ, từ đó nhiều gia đình mới dám trở về dựng lại nhà cửa, khai hoang phục hóa, phát triển ngành nghề làm giàu trên quê hương.

Năm 1930, nhân dân Trà Lũ tổ chức tìm kiếm đào bốc được gần hai nghìn bộ hài cốt quy tập vào các khu đất nghĩa địa ở đầu thôn Trung và xây đền thờ các nghĩa sĩ vô danh tại chùa Vạn Linh để hương khói phụng thờ. Xuân thu nhị kỳ dân làng đến đây dâng hương tưởng niệm. Và tới nay, sau 200 năm cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành thất thủ, nhân dân Trà Lũ vẫn còn thương tiếc Phan Bá Vành, Hai Đáng và những tướng sĩ trong nghĩa quân đã hy sinh bị vùi dập trên cánh đồng Mả.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Phan Bá Vành | Câu chuyện thời hoa lửa