PHAN BỘI CHÂU
Phan Bội Châu người con xứ nghệ nắng gió,hiện lên như một ngọn lửa trong hành trình tìm đường cứu nước đầu thế kỉ XX .Cụ từng tên là Phan Văn San, do trùng tên thụy của vua Duy Tân (Vĩnh San) nên đổi thành Bội Châu. Cụ sinh 26.12.1867 và mất 29 .10 .1940.Quê ở làng Đan Nhiễm, về sau là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lúc còn đi học cụ lấy tên hiệu là Hải Thụ, về sau đổi thanh Sào Nam. Vì thế người đời thường gọi tên cụ một cách kính trọng là Phan Sào Nam
2 . Gia đình Phan Bội châu
Phan Bội Châu là một nếp nhà nho hiền hòa ở làng Đan Nhiệm nơi tiếng gió nghệ thổi qua mái dạ cũng mang theo hơi thở học hành và nghĩa khí. Cụ thân là Phan Văn Phổ, suốt đời làm nghề dạy học; mẹ là Nguyễn Thi Nhàn dòng dõi thế gia, tính tình đoan hậu. Lớn lên cụ Phan kế thừa nề nếp gia phong, sớm bộc lộ tố chất thông minh cùng tinh thần yêu nước, yêu dân tộc.
3.Con đường học tập của Phan Bội Châu
Ngay từ Thuở nhỏ Phan Bội Châu đã nổi tiếng là một cậu bé say mê đèn sách .Trên con đường làng đất đỏ.Cậu thường ôm quyển sách Nho học cũ kĩ vừa đi vừa học quên cả mức trời chiều Khi mới 6 tuổi, Phan Bội Châu đã học thuộc sách “Tam tự kinh” trong khoảng ba ngày; lên 7 tuổi đã đọc và hiểu được cả sách “Luận ngữ”; năm 13 tuổi đã tham gia ứng thí và đỗ đầu trường huyện. Lúc cụ Phan vừa tròn 17 tuổi, nghe tin “Bắc kỳ khởi nghĩa” chống giặc Pháp, cụ đã nhiệt thành hưởng ứng và học theo Hưng Đạo Đại Vương để viết bài hịch “Bình Tây thu Bắc”. Khi cụ vừa sang tuổi 19- cũng là lúc kinh thành Huế thất thủ vào tay Pháp (1885), họ Phan đã cùng bạn học ở quê nhà là Trần Văn Lương, đứng ra lập “Đội nghĩa quân Cần Vương” chống Pháp, nhưng sự việc không thành…
Khoa thi Hương năm Canh Tý (1900), Phan Bội Châu dự thi và đỗ Giải nguyên tại trường thi Nghệ An. Sau khi đỗ đầu kỳ thi Hương, cụ Phan tạm xếp bút nghiên để dấn thân cho sự nghiệp lớn. Cụ bôn ba khắp nơi - vào Nam ra Bắc, sang Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan…để tìm đường cứu dân, cứu nước
Phong trào Đông Du Là một phong trào cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ 20. Phong trào có mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập nước nhà. Lực lượng nòng cốt cổ động và thực hiện phong trào là Duy Tân hội và Phan Bội Châu. Các giai đoạn 1.Giai đoạn hình thành (1903 – 1905) Phan Bội Châu sang Nhật tìm đường cứu nước. Thành lập Hội Duy Tân, chuẩn bị đưa thanh niên Việt Nam ra nước ngoài học tập. Mở đầu việc liên hệ với các tổ chức cách mạng châu Á. 2. Giai đoạn phát triển mạnh (1905 – 1908) Hàng trăm học sinh Việt Nam được gửi sang Nhật học. Nhật hỗ trợ ban đầu (về nơi ở, trường, kinh phí). Phong trào tạo ra lớp thanh niên yêu nước mới, tiếp thu khoa học – quân sự – tư tưởng cải cách. 3. Giai đoạn suy yếu và tan rã (1908 – 1909) Nhật – Pháp ký hiệp ước thân thiện → Nhật trục xuất lưu học sinh Việt Nam. Phong trào mất chỗ dựa, thiếu kinh phí, bị Pháp đàn áp gắt gao. Đông Du chấm dứt nhưng để lại ảnh hưởng lớn cho phong trào yêu nước sau này.
Sau những hoạt động yêu nước, Phan bị thực dân Pháp nhờ bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24-12-1913 Năm 1917, khi vừa ra tù, Phan Bội Châu đứng trước bối cảnh Thế chiến I sắp kết thúc và làn sóng cách mạng thế giới dâng cao. Ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, tinh thần dân tộc sôi nổi khắp năm châu đã thổi vào tư tưởng cụ nguồn sinh lực mới. Ở Hàng Châu, dù sống bằng nghề viết báo, Phan vẫn lợi dụng ngòi bút để đả kích thực dân Pháp, ca ngợi Lênin và Nhà nước Công – Nông như một con đường mới cho dân tộc. Năm 1924, lấy cảm hứng từ tổ chức của Tôn Trung Sơn, cụ cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cuối năm ấy, khi gặp Nguyễn Ái Quốc, Phan càng muốn đổi mới tổ chức theo tư tưởng tiến bộ hơn. Nhưng kế hoạch chưa kịp thực hiện thì ngày 30/6/1925, cụ bị Pháp bắt cóc tại Thượng Hải và đem về Hà Nội xét xử. Sự uy hiếp tới tính mạng của “bậc anh hùng, vị thiên sứ” đã làm bùng lên phong trào bãi khóa – bãi công – bãi thị khắp nước, buộc Pháp phải tha nhưng giam lỏng cụ ở Huế.
Từ 1926, “Ông già Bến Ngự” sống cuộc đời bị quản thúc, “cá chậu chim lồng”, nhưng tâm hồn và ngòi bút vẫn hướng về dân tộc. Cụ dồn sức viết hàng loạt tác phẩm lớn như Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi thanh niên, Khổng học đăng, Phật học đăng, Xã hội chủ nghĩa, cùng trên 800 bài thơ Nôm, phú, văn tế, biên khảo… Tất cả đều gửi gắm nỗi đau mất nước và lời thức tỉnh trách nhiệm công dân. Phan Bội Châu – người con ưu tú của đất Nghệ, sinh năm 1867 tại Nam Đàn – từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, cùng học với Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, cha của Bác Hồ. Nhờ mối thâm tình giữa hai gia đình, cụ Phan biết Nguyễn Sinh Cung từ thuở còn là cậu bé. Năm 1900, cụ đỗ thủ khoa kỳ thi Hương trường Nghệ. Vài năm sau, mang theo khát vọng chấn hưng dân tộc, cụ sáng lập Hội Duy Tân và xuất dương sang Nhật tìm đường cứu nước. Đến năm 1925, cụ bị thực dân Pháp bắt và giam lỏng ở Huế, trở thành “Ông già Bến Ngự”. Bác Hồ sinh năm 1890, mới 15 tuổi đã làm liên lạc cho các sĩ phu yêu nước ở quê nhà. Dù cùng chí hướng, con đường cứu nước của Người khác với cụ Phan. Tết Ất Tỵ 1905, trước khi đi Nhật, cụ Phan ghé thăm cụ Sắc. Trong buổi rượu tiễn bạn, cụ Phan ứng khẩu một vế đối đầy trăn trở về nợ nước. Bất ngờ, cậu bé 15 tuổi Nguyễn Sinh Cung đối lại một vế chỉnh chu và thâm thúy, khiến hai bậc sĩ phu phải kinh ngạc – như báo trước tài năng lớn của Người sau này. Nửa năm sau, tổ chức Đông Du ra đời. Dù có tên trong danh sách sang Nhật, Nguyễn Sinh Cung từ chối vì nhận thấy con đường của cụ Phan chưa phải lối đi đúng. Dẫu vậy, khi trở thành Nguyễn Ái Quốc, Người luôn trân trọng và ủng hộ cụ Phan. Bài ký nổi tiếng “Những trò lố bịch hay Varen và Phan Bội Châu” đã vạch trần sự giả dối của chính quyền thuộc địa trong vụ bắt cụ Phan. Theo nhà nghiên cứu Chương Thâu, năm 1924–1925, sau khi trao đổi với Nguyễn Ái Quốc, cụ Phan dự định cải tổ Việt Nam Quốc dân đảng theo gương Tôn Trung Sơn. Nhưng kế hoạch dang dở vì cụ bị bắt vào tháng 6–1925. Trong những năm giam lỏng, cụ nhiều lần nhắc đến Nguyễn Ái Quốc với sự kính trọng. Cụ từng nói với các trí thức yêu nước Huế:
“Nếu Nam Đàn có Thánh thật thì đó là Nguyễn Ái Quốc.” Tháng 1–1925, cụ Phan gửi thư cho Lý Thụy (tức Nguyễn Ái Quốc). Trong thư, cụ xưng “bác – cháu”, bày tỏ niềm vui xen lẫn tự hào khi người cháu ngày nào giờ đã trở thành một nhà cách mạng tầm vóc quốc tế. Cụ mong được gặp Nguyễn Ái Quốc để hỏi ý kiến, bàn chuyện lớn, và tha thiết xin được trao đổi thêm. Đáng tiếc, những mong muốn cộng tác ấy không bao giờ thành hiện thực, bởi ngay sau đó cụ Phan bị thực dân Pháp giam cầm và mất quyền hoạt động. 2 Sự nghiệp sáng tác của Phan Bội Châu Một số tác phẩm phẩm của Phan Bội Châu Ái chủng (1910) Ái quần (1910) Ái quốc (1910) Bài ca chúc tết thành niên (1926) Bài thơ tặng một cô gánh nước (1929) Bài Văn tế cụ Trái Xuyên Trần Quý Cáp Bán minh (1928) Bánh mì (1939) Mội số tác phẩm chính Việt Nam vong quốc tử Hải thoại huyết thư



