Phan Bội Châu – người thắp lửa Đông Du
Tên câu chuyện:
Phan Bội Châu – người thắp lửa Đông Du
Câu chuyện:
Ngày 26 tháng 12 năm 1867, tại làng Đan Nhiễm (nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), Phan Bội Châu – tên thật là Phan Văn San, hiệu Sào Nam – ra đời. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất khác thường. Mới năm, sáu tuổi, cậu bé San đã đọc hiểu sách chữ Hán, nổi tiếng thông minh, nhanh nhẹn và đối đáp mạch lạc khắp vùng.
Năm mười ba tuổi, Phan Bội Châu đi thi huyện và đỗ đầu. Ba năm sau, trong kỳ thi sát hạch ở tỉnh, một giai thoại đã làm rạng danh ông. Hôm ấy, giờ thi đã bắt đầu khá lâu mà Phan vẫn chưa đến. Khi cậu xuất hiện với gương mặt đẫm mồ hôi, quan chánh chủ khảo Phạm Như Xương không trách phạt nhưng ra cho một đề riêng, mượn hình ảnh cành mai cuối xuân để kín đáo phê bình sự đến muộn: “Hoa khai bất cập xuân”. Hiểu rõ dụng ý ấy, Phan Bội Châu đã làm bài thơ ứng đối đầy khiêm nhường và sâu sắc. Đến câu thơ thứ tư, quan chủ khảo liền cho dừng bút, hết lời khen ngợi. Kết quả, Phan đỗ đầu xứ, từ đó được gọi là Đầu xứ San.
Bước vào tuổi trưởng thành, Phan Bội Châu vừa dạy học để nuôi cha già, vừa âm thầm đọc sách mới, kết giao với những người cùng chí hướng, chuẩn bị cho con đường cứu nước. Năm 1900, ông đỗ thủ khoa kỳ thi Hương. Nhưng danh vọng khoa cử không làm ông thỏa mãn. Trước cảnh nước mất, ông sớm nhận ra rằng con đường cũ không thể đưa dân tộc đến độc lập.
Tháng 5 năm 1904, Phan Bội Châu tổ chức Hội Duy Tân ở Quảng Nam, chủ trương xuất dương cầu viện. Tháng 1 năm 1905, cùng Tăng Bạt Hổ, ông sang Nhật Bản, mở đầu cho phong trào Đông Du – đưa thanh niên Việt Nam ra nước ngoài học tập, mong tìm con đường canh tân đất nước theo mô hình Nhật Bản.
Suốt hai mươi năm bôn ba hải ngoại (1905–1925), Phan Bội Châu sống cuộc đời phiêu bạt, viết nhiều tác phẩm lịch sử, chính luận và thơ văn để thức tỉnh đồng bào. Dù ở xa Tổ quốc, ông vẫn gắn bó mật thiết với các phong trào trong nước như khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào nông dân Trung Kỳ và các phong trào yêu nước ở Nam Kỳ. Trong lòng ông luôn cháy bỏng khát vọng khôi phục nền độc lập cho Việt Nam.
Năm 1925, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải, giải về nước giam ở Hỏa Lò. Chúng định thủ tiêu ông trong bí mật nhưng không thành, buộc phải đưa ra xét xử công khai và tuyên án tử hình. Trước tòa, Phan Bội Châu hiên ngang bác bỏ mọi cáo buộc bằng lý lẽ sắc bén, khiến cả dư luận chấn động.
Làn sóng đấu tranh của nhân dân đòi ân xá Phan Bội Châu dâng cao chưa từng có. Trước sức ép ấy, thực dân Pháp phải hạ án tử hình xuống khổ sai, rồi cuối cùng buộc phải tuyên bố tha bổng. Tuy nhiên, chúng vẫn giam lỏng ông tại Huế cho đến cuối đời.
Ngày 29 tháng 10 năm 1940, Phan Bội Châu qua đời, khép lại cuộc đời hơn bảy mươi năm dâng hiến cho dân tộc. Ông không giành được thắng lợi cuối cùng trong đời mình, nhưng đã thắp lên ngọn lửa yêu nước, mở đường cho những thế hệ sau tiếp bước. Trong lịch sử Việt Nam, Phan Bội Châu mãi được nhớ đến như một chí sĩ kiên cường, lấy cả cuộc đời làm hành trình đi tìm độc lập cho non sông.s



