Phan Đăng Lưu - Nhà cách mạng tiền bối xuất sắc, một trí thức cách mạng tiêu biểu
Phan Đăng Lưu - Nhà cách mạng tiền bối xuất sắc, một trí thức cách mạng tiêu biểu
Toggle navigation
Phan Đăng Lưu - Nhà cách mạng tiền bối xuất sắc, một trí thức cách mạng tiêu biểu
Trang chủ
Nghiên cứu
Nhân vật lịch sử
06/05/2022 09:36 5412
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Phan Đăng Lưu đã góp phần xứng đáng xây dựng nền móng ban đầu cho sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy tổ chức và đảng viên của mình, với nhân dân, với cách mạng. Nổi bật nhất là trên trận địa tư tưởng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ.

Đồng chí Phan Đăng Lưu (hàng sau, thứ hai từ trái sang) trong phong trào vận động dân chủ 1936 – 1939 tại Huế. Ảnh: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
MỘT TRÍ THỨC CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU
Phan Đăng Lưu sinh ngày 5/5/1902 trong một gia đình nhà nho, có truyền thống yêu nước ở thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Phan Đăng Lưu học chữ Hán từ năm lên sáu tuổi, gần mười năm sau bắt đầu học tiếng Pháp ở quê nhà Yên Thành và trường Tiểu học Pháp - Việt, thị xã Vinh, tháng 6/1920. Sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học, Phan Đăng Lưu thi vào trường Quốc học Huế, bậc trung học và đỗ loại giỏi; học hết năm thứ nhất, nộp đơn thi vào trường Nông nghiệp thực hành Tuyên Quang. Trong một bức thư gửi cha mẹ thời gian này, Phan Đăng Lưu đã viết: “Người trí thức không thể chỉ nghĩ đến danh lợi cho riêng mình, mà phải lo điều ích nước, lợi dân... Gần đây, con được xem một số sách về nông nghiệp Âu Tây, thấy họ có nhiều phương pháp trồng trọt, chăn nuôi tiến bộ, nhờ đó mà nước họ thịnh vượng, giàu có.”. Sau hai năm miệt mài học tập (năm 1921-1923), Phan Đăng Lưu tốt nghiệp xếp loại giỏi thứ 5.

Chân dung đồng chí Phan Đăng Lưu và danh sách Đảng viên Tân Việt trong đó có đồng chí Phan Đăng Lưu (năm 1929). Ảnh: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh
Khi bước vào con đường cách mạng, Phan Đăng Lưu đã rất thành thạo tiếng Pháp, giỏi chữ Hán, Bạch thoại. Tháng 5/1928, Phan Đăng Lưu được Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Đảng cử vào Huế, tham gia Ban Thường vụ của Tổng bộ và làm Ủy viên Tỉnh bộ Huế; tham gia Ban biên tập Quan Hải Tùng Thư do Đào Duy Anh đứng đầu. Cơ quan này đã biên tập, biên dịch, in và phát hành được 13 cuốn sách, trong đó Phan Đăng Lưu trực tiếp dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt hai đầu sách của tập Xã hội luận trong bộ sách của Đông Phương Văn Khố (Trung Quốc) và cuốn Lịch sử học thuyết kinh tế (quyển Hạ) theo Kinh tế học thuyết sử của Nhật Bản. Ông cũng dịch và biên soạn nhiều tài liệu: A.B.C Chủ nghĩa Mác, Dân chủ mới; các cuốn Xã hội luận, Lịch sử các học thuyết kinh tế….
Phan Đăng Lưu được Tổng bộ Tân Việt hai lần cử sang Quảng Châu, Trung Quốc để bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Lần đầu, ông xuất phát giữa tháng 12/1928, kết thúc giữa tháng 5/1929. Chuyến đi ấy, khi vừa đến Quảng Châu thì gặp tình huống rất bất lợi, khó khăn: Ngay trước đó, Tưởng Giới Thạch làm chính biến phản cách mạng, trở mặt đàn áp, bắt bớ các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và những người nước ngoài nghi là cộng sản; đồng chí Nguyễn Ái Quốc rời sang Liên Xô. Phan Đăng Lưu và người cùng đi tìm đến các địa chỉ cần thiết để tìm hiểu tình hình, thu thập sách, báo, tài liệu, nhất là tài liệu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, về chủ nghĩa Mác, tình hình cách mạng ở Liên Xô và Trung Quốc, các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin… mang về nước. Giữa tháng 9/1929, ông tiếp tục được Tổng bộ Tân Việt cử sang Trung Quốc, nhưng vừa ra đến Hải Phòng thì bị mật thám Pháp bắt đưa về giam ở Vinh, đầu năm 1930 bị đày lên nhà tù Buôn Mê Thuột. Để vận động lính Êđê và tù nhân người Thượng bị chúa ngục Pháp nhồi nhét tư tưởng chia rẽ, hằn học tù nhân người Kinh, Phan Đăng Lưu tự học tiếng Êđê, vận động anh em, đồng chí cùng học. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ông đã nói thạo tiếng Êđê, “xuất bản tờ báo” bí mật mang tên Doãn Đê tù báo
Ở trong tù, Phan Đăng Lưu cùng các đồng chí mình học tập lý luận, trao đổi nhiều vấn đề về đấu tranh cách mạng, động viên tinh thần và chí khí chiến đấu; sáng tác thơ ca, viết báo bí mật gửi ra ngoài lên án chế độ lao tù dã man của thực dân. Ra tù sau 7 năm bị giam cầm, ông lại lao vào công việc ở xứ ủy Trung Kỳ. Khoảng giữa tháng 10/1937, để góp phần nâng cao nhận thức và trình độ lý luận phổ thông cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, với bút danh Tân Cương, Phan Đăng Lưu đã viết hai cuốn sách bỏ túi: Xã hội tư bản, Thế giới cũ và thế giới mới (mỗi cuốn chỉ xấp xỉ 30 trang), cung cấp những thông tin và kiến thức cần thiết về tình hình thế giới; về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc; về giai cấp vô sản; về Liên bang Xô viết - một chế độ xã hội tốt đẹp của nhân loại…
Tháng 9/1937, Phan Đăng Lưu tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tại Hóc Môn, Bà Điểm, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 3/1938, Hội nghị đại biểu cả ba Xứ ủy bầu Ban Chấp hành Trung ương mới, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn tham gia Ban Thường vụ, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 11/1940, ngay sau khi dự Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương 7), Phan Đăng Lưu trở lại Nam Kỳ và bị mật thám Pháp bắt giam, bị Tòa án thực dân Pháp kết án tử hình. Trong những ngày cuối cùng chốn lao tù, Phan Đăng Lưu vẫn cùng các đồng chí mình học tập, nghiên cứu, đánh giá và rút ra những bài học xương máu về khởi nghĩa Nam Kỳ.
Năm 1959, trong dịp thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tại gian trưng bày ảnh các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng ta, trước ảnh đồng chí Phan Đăng Lưu, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói: “Đồng chí Phan Đăng Lưu là một trí thức cách mạng tiêu biểu”.



