Anh hùng Lực lượng vũ trang

PHAN ĐÌNH GIÓT – BIỂU TƯỢNG CỦA LÒNG QUẢ CẢM VÀ TINH THẦN “QUYẾT TỬ CHO TỔ QUỐC QUYẾT SINH”

Bài viết tái hiện cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và khoảnh khắc hy sinh anh dũng của Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót tại cứ điểm Him Lam năm 1954. Qua đó, tác phẩm khắc họa chân thực chân dung người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, đồng thời khẳng định giá trị biểu tượng trường tồn của tấm gương xả thân vì Tổ quốc trong lòng các thế hệ mai sau.

Tuyên Quang22/10/2026Đặng Thu Trang (Đại học Y tế công cộng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, năm 1954 đã ghi dấu một mốc son chói lọi mang tên Chiến thắng Điện Biên Phủ. Kỳ tích "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" ấy không chỉ được dệt nên bởi đường lối quân sự tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn bằng chính máu xương, tuổi thanh xuân của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận. Trong số những người con ưu tú ấy, Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót - người chiến sĩ bộ binh dũng cảm lấy thân mình lấp lỗ châu mai tại cứ điểm Him Lam ngày 13 tháng 3 năm 1954 - đã trở thành biểu tượng bất tử cho ý chí "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Việc tìm hiểu, vinh danh cuộc đời và hành động anh hùng của Phan Đình Giót là sự tri ân sâu sắc đối với quá khứ, đồng thời khẳng định giá trị bền vững của lý tưởng sống vì độc lập, tự do cho thế hệ hôm nay.

Nhà văn Maxim Gorky từng khẳng định: “Con người trưởng thành trong gian khổ và bản lĩnh được tôi luyện qua giông bão.” Tượng đài anh hùng Phan Đình Giót cũng không ngoại lệ, khi xuất thân gian lao cùng ngọn lửa cách mạng chính là cái nôi nuôi dưỡng nên tâm hồn kiên trung, bất khuất của “người con đất Cẩm Xuyên”.

Sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Tam Quang, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, “người con xứ Nghệ” sớm chịu cảnh mồ côi cha do nạn đói năm 1945. Từ năm 13 tuổi, người thanh niên ấy đã phải đi làm thuê, ở đợ để kiếm sống qua ngày. Chính cuộc sống bị áp bức, bóc quẻ dưới chế độ cũ đã hun đúc trong lòng người chí sĩ trẻ tuổi niềm căm thù giặc sâu sắc và khát vọng giải phóng dân tộc cháy bỏng. Sau Cách mạng Tháng Tám, người thanh niên ấy tham gia lực lượng tự vệ địa phương và đến năm 1950 chính thức xung phong nhập ngũ vào bộ đội chủ lực. Trải qua các chiến dịch lớn như Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc, “người chiến sĩ kiên trung” luôn nêu cao tinh thần quả cảm, nỗ lực hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trên chiến trường.

Đánh giá về phẩm chất của người anh hùng, trong cuốn sách "Anh hùng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ" (NXB Quân đội nhân dân, 2009), tác giả Lê Hải Triều đã ghi nhận: "Trận đánh nào Phan Đình Giót cũng nêu cao tinh thần quả cảm, kiên quyết vượt qua mọi khó khăn. Dù từng hai lần bị thương nặng trên chiến trường, anh vẫn cố nén nỗi đau để tiếp tục bám sát đồng đội, giữ vững ý chí chiến đấu đến cùng." Có thể thấy, chính quãng đời thơ ấu gian lao cùng ngọn lửa giác ngộ cách mạng đã trở thành bệ phóng vững chắc, tôi luyện nên ở “người chiến sĩ bộ binh” một bản lĩnh kiên cường, sẵn sàng hiến dâng tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhìn lại tinh thần quả cảm của các chiến sĩ Điện Biên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Đó là sự hy sinh vô cùng cao đẹp của những con người đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, làm nên sức mạnh thần kỳ của chiến tranh nhân dân.” Bản lĩnh kiên cường ấy đã bùng cháy thành một biểu tượng bi tráng trong trận đánh mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ, nơi người chiến sĩ quả cảm đưa ra sự lựa chọn phi thường làm rung chuyển cả chiến trường. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, tiếng súng mở màn chiến dịch chính thức vang lên rền vang tại cứ điểm Him Lam. Lúc bấy giờ, Phan Đình Giót mang cấp bậc Tiểu đội phó bộ binh thuộc Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt dưới mưa bom bão đạn. Đơn vị của anh có nhiệm vụ dùng bộc phá dọn đường qua các lớp rào gai thép. Dù bị thương vào đùi khi đánh quả bộc phá thứ chín, người chiến sĩ ấy vẫn kiên quyết xung phong đánh tiếp quả thứ mười. Đúng lúc này, hỏa điểm từ một lô cốt ngầm của địch bất ngờ xả đạn như mưa, chặn đứng đà tiến công của quân ta và khiến nhiều đồng chí thương vong. Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, khi lựu đạn và đạn tiểu liên đã cạn, với nhiều vết thương trên mình, anh đã nén đau, dùng hết sức lực còn lại bò áp sát lỗ châu mai, nâng khẩu tiểu liên bắn nốt những viên đạn cuối cùng rồi bất ngờ lao cả thân mình ép chặt vào lỗ châu mai kẻ thù. Hỏa điểm dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên tiêu diệt gọn cứ điểm, mở màn cho thắng lợi lịch sử. Người chiến sĩ ấy trút hơi thở cuối cùng lúc 22 giờ 30 phút ngày 13/3/1954 ở tuổi 32.

Hành động xả thân bi tráng ấy đã trở thành nguồn cảm hứng thi ca bất tận. Ngay tại mặt trận, nhà thơ Tố Hữu đã khắc họa bức tượng đài ấy qua những vần thơ dạt dào niềm tự hào trong bài "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên":

"Hoan hô chiến sĩ Điện Biên...

Những đồng chí thân chôn làm giá súng

Đầu bịt lỗ châu mai

Băng mình qua núi thép gai

Ào ào vũ bão..."

Hành động của “người anh hùng lấp lỗ châu mai” không phải là sự bột phát căm hờn tức thời, mà là sự kết tinh cao độ của bản lĩnh chính trị, tình đồng đội sâu sắc và sự hy sinh quên mình vì mục tiêu tối cao của chiến dịch. Sự hy sinh anh dũng của anh không chỉ dập tắt hỏa điểm kẻ thù để mở đường cho đồng đội tiến lên, mà còn tạc nên một tượng đài bất tử về lòng quả cảm và tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

Đúng như nhận định của Bác Hồ: “Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng danh tiếng gấm vóc của các liệt sĩ sẽ sống mãi với núi sông Việt Nam.” Sự cống hiến anh dũng ấy không hề bị thời gian vùi lấp, mà trái lại, tấm gương của Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót đã trở thành một giá trị biểu tượng bền vững, sống mãi trong lòng các thế hệ mai sau.

Ghi nhận chiến công đặc biệt xuất sắc ấy, ngày 31 tháng 8 năm 1955, Phan Đình Giót đã được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì. Tên tuổi của anh không chỉ đi vào trang sách giáo khoa lịch sử mà còn được trân trọng đặt cho nhiều trường học, con đường trên khắp mọi miền đất nước. Đặc biệt, nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 – 2024), thành phố Điện Biên Phủ đã chính thức đặt tên cho một tuyến đường trọng điểm để ghi nhớ công ơn của “người liệt sĩ đã ngã xuống tại Him Lam”. Những kỷ vật đơn sơ như chiếc bi đông, khẩu súng của người chiến sĩ năm xưa hiện vẫn được lưu giữ trân trọng tại Bảo tàng Quân đoàn 12 như những chứng nhân lịch sử vô giá, truyền ngọn lửa tự hào cho triệu triệu trái tim Việt Nam. Những danh hiệu cao quý cùng những con đường, ngôi trường mang tên “người anh hùng” hôm nay chính là minh chứng cho thấy sự tri ân sâu sắc của dân tộc, giữ cho ngọn lửa tri ân ấy luôn cháy mãi cùng thời gian.

Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, chúng ta càng thêm tự hào về những trang sử vàng được viết bằng máu và hoa của dân tộc. Tóm lại, Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót là minh chứng sống động nhất cho sức mạnh tinh thần và lòng yêu nước nồng nàn của thế hệ trẻ Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Thân xác của người chiến sĩ ấy đã hòa vào lòng đất mẹ Mường Thanh, nhưng tấm gương xả thân dập tắt hỏa điểm địch đã trở thành một biểu tượng trường tồn cùng sông núi. Thấu hiểu và vinh danh tấm gương hy sinh ấy giúp thế hệ thanh niên hôm nay thêm trân trọng giá trị của hòa bình, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, nỗ lực học tập và cống hiến sức trẻ để bảo vệ, phát triển đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn