PHAN ĐÌNH GIÓT – BIỂU TƯỢNG QUYẾT TỬ TRONG BẢN HÙNG CA ĐIỆN BIÊN PHỦ
Năm sinh: (1922 -1954) Nhập ngũ:1950 ,Quê quán: Tỉnh Hà Tĩnh ,Dân tộc: Kinh , Chức vụ: Tiểu đội phó bộ binh thuộc Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 Khen thưởng: Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (1955) Huân chương Quân công hạng Nhì (1955)Tóm tắt thành tích chiến đấu ,Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, đồng chí Phan Đình Giót tham gia tự vệ chiến đấu.Năm 1950, đồng chí xung phong vào bộ đội chủ lực.Tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc…Cuối năm 1950, trong trận Chùa Tiếng, đồng chí dũng cảm xung phong một mình đánh sập 4 ụ súng địch, tiêu diệt được nhiều tên.Mùa đông năm 1953, đơn vị của đồng chí được lệnh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Lúc ấy, Phan Đình Giót là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 đã cùng đồng đội hành quân cấp tốc lên Tây Bắc. Ngày 13/3/1954, Đại đoàn 312 đồng loạt tấn công vào cứ điểm Him Lam, Phan Đình Giót cùng các chiến sĩ Đại đội 58 được lệnh dùng bộc phá phá rào 8 lần để mở cửa lô cốt.Phan Đình Giót đánh quả thứ chín thì bị thương ở đùi, nhưng vẫn xung phong đánh quả bộc phá tiếp theo.Sau đó, Phan Đình Giót đánh liên tiếp hai quả bộc phá nữa, phá hàng rào cuối cùng, mở thông đường để đồng đội lên đánh sập lô cốt của địch. Quân Pháp hoang mang, lợi dụng thời cơ, đồng chí lao lên đánh tiếp lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho đồng đội tiến lên. Trong đợt xung phong này, đồng chí bị thương vào vai, đùi, mất rất nhiều máu. Bất ngờ, hỏa điểm lô cốt số 3 của Pháp bắn mạnh vào đội hình của ta. Lực lượng xung kích của ta bị chặn lại, Phan Đình Giót cố gắng bò đến gần lô cốt số 3 và dùng hết sức mình nâng tiểu liên bắn mạnh vào lỗ châu mai , miệng hô to: “Quyết hy sinh vì... Đảng vì... dân!”, rồi rướn người lấy đà lao thân mình bịt kín lỗ châu mai, dập tắt hỏa lợi hại của địch tạo điều kiện cho đơn vị xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam. Phan Đình Giót đã hy sinh anh dũng lúc 22 giờ 30 phút ngày 13/3/1954 ở tuổi 32.Ngày 31/8/1955, đồng chí được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Lịch sử Việt Nam là một bản trường ca kéo dài hơn bốn nghìn năm, nơi mỗi thế hệ đều gửi vào đất nước một nắm xương, một giọt máu, một tấm lòng.
Năm 1922, giữa miền quê nghèo Hà Tĩnh – nơi những trận gió Lào thổi hun hút và những lũy tre vẫn đứng kiên cường trong bão cát – Phan Đình Giót ra đời.Ông sinh ra không phải để trở thành một người phi thường, mà chính hoàn cảnh của thời đại đã nhào nặn ông thành một biểu tượng:Nhưng từ những tầng tro tàn của khổ đau, một hạt mầm bất khuất đã mọc lên.Đời ông giống như cây sim tím sẫm trên đất đồi: càng khắc nghiệt càng mạnh mẽ. Trong chiến dịch lịch sử “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt…” chiến đấu và phục vụ chiến đấu dưới mưa bom bão đạn của quân thù, biết bao tấm gương dũng cảm, mưu trí “gan không núng, chí không mòn” đã xuất hiện. Để góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7/5/1954, lừng lẫy năm châu, biết bao tấm gương đã anh dũng hy sinh “dù bom đạn xương tan, thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh”…Mang trên mình một tình yêu Tổ quốc, những cán bộ, chiến sĩ tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 - 7/5/1954) luôn sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc đó, đã được Đảng và Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Khi ánh sáng Cách mạng Tháng Tám lan về làng mạc, chàng trai Phan Đình Giót đã tìm được con đường của đời mình: Cầm súng để đứng lên, để không một đứa trẻ nào phải mồ côi như ông nữa. Năm 1947, ông gia nhập Vệ quốc đoàn. Ở đó, ông không nổi bật bởi học vấn hay chức vụ. Điều khiến người ta nhớ về ông là: Sự hăng hái vượt mức bình thường, tinh thần chịu đựng gian khổ, thái độ kỷ luật và tuyệt đối trung thành. Trong đơn vị, ông được gọi bằng một tên thân thuộc: Thằng Giót rắn như sắt. Trung đoàn 102 – Đại đoàn 308 nơi ông phục vụ là lực lượng chủ lực tinh nhuệ nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ đầu. Đó là nơi tập hợp những chiến sĩ xung kích kiên cường, như những mũi giáo lao vào những vị trí hiểm yếu nhất của kẻ thù. Phan Đình Giót thuộc về nơi đó – bởi ông sinh ra để đi đầu. Muốn hiểu Phan Đình Giót, phải hiểu Điện Biên Phủ. Không đơn giản là một trận đánh, nó là cuộc đối đầu giữa: Một bên: ý chí của cả một dân tộc nghìn năm chống ngoại xâm. Một bên: nền quân sự hiện đại của Pháp được hậu thuẫn bởi Mỹ Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài bất khả xâm phạm gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu, được trang bị đại bác, xe tăng, lô cốt bê tông, máy bay vận tải. Phan Đình Giót đã bước vào lịch sử tại chính nơi quyết liệt nhất này.
Không một huyền thoại nào bắt đầu bằng sự bồng bột. Chỉ có quyết tâm âm ỉ như ngọn lửa đỏ dưới tro. Đêm trước giờ xung trận, đồng đội kể: Ông lặng lẽ mài lưỡi dao. Kiểm tra từng đoạn dây phá rào. Ôm khẩu súng như ôm một lời thề. Người lính ấy không khóc, không run, không nói nhiều. Nhưng ánh mắt thì cháy như than hồng, vì ông biết trận đánh này không chỉ đoạt đất – mà còn đoạt lấy vận mệnh của cả chiến dịch. Ở chiến trường, có những người lính sinh ra để sống sót và trở về ,Nhưng cũng có những người sinh ra chỉ để sống một lần – nhưng sống rực rỡ. Phan Đình Giót thuộc nhóm thứ hai. Ông ôm lấy miệng lỗ châu mai. Bằng chính thân mình. Hỏa lực bỗng câm lặng. Và trong 2–3 giây im lặng ấy, vận mệnh trận đánh đã đổi hướng. Đồng đội tràn lên. Hỏa điểm bị tiêu diệt. Cửa mở mở ra. Đồi A1 bắt đầu lung lay. Điện Biên Phủ bắt đầu thất thủ. Một người, một khoảnh khắc, một hành động. Và lịch sử sang trang.
Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai để quân ta chớp thời cơ, xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiều 13/3/1954 |
Hành động “lấp lô cốt” của Phan Đình Giót không chỉ là một chiến thuật quân sự. Nó trở thành một biểu tượng nghệ thuật của sự hi sinh. Nó chứa đầy tính biểu tượng, ông trở thành “bức tường bằng xương thịt” ngăn lửa đạn, như sự hóa thân của con người thành thành lũy. Phan Đình Giót là hình ảnh sử thi của thời đại Điện Biên .Nhân vật nghệ thuật thời kháng chiến không sợ chết – vì họ sợ không hoàn thành nhiệm vụ hơn. Bi kịch – Hùng ca Cái chết bi thương nhưng lại mở đường cho chiến thắng huy hoàng. Đó là tính chất “bi tráng” mà văn học nghệ thuật thường tìm kiếm.


