Bài viết

Phan Đình Giót - Khúc tráng ca vĩ đại của người anh hùng lấp lỗ châu mai

Phan Đình Giót - Khúc tráng ca vĩ đại của người anh hùng lấp lỗ châu mai

Tây Ninh01/06/2026Ngô Thị Ngọc (THCS TIên Thuận)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Phan Đình Giót - Khúc tráng ca vĩ đại của người anh hùng lấp lỗ châu mai

Giữa mịt mù khói lửa và những luồng đạn réo rắt như xé nát không gian, một người chiến sĩ dướn cao người, lấy đà vươn lồng ngực thanh xuân rực lửa áp chặt vào hỏa điểm đang tuôn mưa đạn của quân thù. Cùng với hành động bi tráng tột độ ấy là tiếng thét vang vọng cả đại ngàn: "Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!". Khoảnh khắc rúng động lịch sử ấy đã khắc tạc nên bức tượng đài bất tử mang tên Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót, người đã ngã xuống oanh liệt vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954 để dọn đường cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Giữa mịt mù khói lửa và những luồng đạn réo rắt như xé nát không gian, một người chiến sĩ dướn cao người, lấy đà vươn lồng ngực thanh xuân rực lửa áp chặt vào hỏa điểm đang tuôn mưa đạn của quân thù. Cùng với hành động bi tráng tột độ ấy là tiếng thét vang vọng cả đại ngàn: "Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!". Khoảnh khắc rúng động lịch sử ấy đã khắc tạc nên bức tượng đài bất tử mang tên Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót, người đã ngã xuống oanh liệt vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954 để dọn đường cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Cuộc đời của người anh hùng ấy bắt nguồn từ một gia cảnh bần nông, nghèo khó bực nhất ở xóm Tam Quang, thôn Vĩnh Yên, xã Cẩm Quan (có tài liệu ghi xã Tam Quan), huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Sinh năm 1922, tuổi thơ của anh là những chuỗi ngày đẫm nước mắt khi bố mất sớm, hai anh em phải nương tựa vào mẹ trong một ngôi nhà tranh siêu vẹo, dột nát. Vì đói khát, không có cái ăn, Phan Đình Giót cùng em trai phải ngậm đắng nuốt cay đi ở đợ, làm thuê cho địa chủ từ lúc mới lên 6, lên 7 tuổi (có nguồn ghi từ năm 13 tuổi). Lớn lên trong đắng cay tủi nhục, thế nhưng anh lại mang một trái tim vô cùng ấm áp và yêu thương đồng đội hết mực. Trong quân ngũ, anh luôn tự giác nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình, lo từng giấc ngủ, bát canh cho anh em. Lối sống ân tình, hay khuyên nhủ dịu dàng ấy đã khiến anh được đồng đội mến phục, tin yêu gọi bằng cái tên thân thương: "anh cả". Tinh thần quả cảm của anh sớm rực cháy qua hành động chích máu viết quyết tâm thư gửi lên đại đoàn, thể hiện chí khí hiên ngang của một thanh niên kiên trung.

Từ tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950, anh chính thức xung phong vào bộ đội chủ lực. Chặng đường dấn thân của anh in đậm những chiến công hiển hách ở trận đánh đồn Tràng Bạch dù mới ba tháng tuổi quân, và sau đó là đánh tiêu diệt vị trí Chùa Tiếng vào cuối năm 1950. Bước vào Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, anh cùng đơn vị thuộc biên chế Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 thực hiện cuộc hành quân gian khổ dài gần 500km. Dẫu vượt bao đèo dốc, đôi bàn chân nứt nẻ, đau buốt và rướm máu, người chiến sĩ kiên cường ấy vẫn cắn răng chịu đựng, bền bỉ xẻ núi, mở đường kéo pháo vào trận địa.

Khúc tráng ca bi ai và vĩ đại nhất đã cất lên trong trận đánh mở màn tiêu diệt cứ điểm Him Lam vào chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954. Dưới làn hỏa lực địch trút như mưa, Phan Đình Giót dũng cảm xông lên, đánh đến quả bộc phá thứ chín thì bị thương ở đùi, nhưng anh vẫn quyết lao tới. Trong lúc dùng tiểu liên bắn trả bảo vệ đồng đội, anh bị thương lần thứ ba vào vai, máu chảy đầm đìa rồi ngất đi. Khi tỉnh dậy, thấy cán bộ trung đội đã thương vong hết, anh tự đứng ra đảm nhiệm vai trò chỉ huy. Nhìn trừng trừng vào hỏa điểm địch đang nhả đạn cản bước tiến, anh ép mình sát mặt đất, nhích dần từng tý để tiếp cận lỗ châu mai của lô cốt số 3. Anh nâng tiểu liên bắn cạn băng đạn này đến băng đạn khác, rồi dùng hết sức lực cuối cùng thét to: "Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!". Vừa dứt lời, anh lấy đà rướn người, hai tay bám chặt vào những thân cây gỗ rồi xoay thật nhanh, áp trọn tấm lồng ngực thanh xuân vào bịt kín lỗ châu mai địch.

Dòng máu và sinh mệnh của Phan Đình Giót đã dập tắt hoàn toàn hỏa điểm lợi hại nhất của quân Pháp, mở đường máu cho toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam. Anh ngã xuống hiên ngang khi đang mang cấp bậc Tiểu đội phó bộ binh. Ghi nhận công lao trời biển ấy, ngày 31 tháng 3 năm 1955, anh được truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng Huân chương Quân công hạng Nhì. Sự hy sinh của anh là minh chứng vĩnh cửu cho tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm vô song, trở thành ngọn lửa châm ngòi cho chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" vang vọng khắp lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn