Phan Đình Phùng
Phan Đình Phùng không chỉ là một nhà nho cầm gươm, ông còn là một nhà chiến lược quân sự tài ba.

Phan Đình Phùng (1847-1895) sinh ra tại làng Đông Thái, Hà Tĩnh – vùng đất địa linh nhân kiệt. Đông Thái nổi tiếng là quê hương và nơi sinh sống của nhiều quan lại cấp cao của triều đình từ thời nhà Lê, mười hai đời liên tiếp dòng họ Phan của ông đều đỗ đạt làm quan.
Từ nhỏ, Phan Đình Phùng đã tỏ ra chán ghét với chương trình học bảo thủ xưa cũ, tuy vậy ông vẫn kiên trì học tập cho đến khi đỗ Cử nhân vào năm 1876. Trong bài thi của mình, Phan Đình Phùng đã lấy Nhật Bản làm ví dụ cho việc một đất nước có thể phát triển quân sự thần tốc nếu có đủ ý chí. Ông đậu Cử nhân trong khoa thi Bính Tí (1876) và trở thành Đình nguyên Tiến sĩ trong kỳ thi Đình năm 1877.
Dưới triều vua Tự Đức, ông giữ chức Ngự sử tại đô, một chức vụ cho phép ông chỉ trích các quan lại đồng liêu và thậm chí cả hoàng đế. Với tư cách là người đứng đầu Đô sát viện, Phan Đình Phùng đã thanh tra và loại bỏ được nhiều quan lại bất tài hoặc tham nhũng, ông từng bị cách chức và suýt mất mạng vì dám thẳng thắn phản đối việc phế vua này lập vua khác của quyền thần Tôn Thất Thuyết.
Thế nhưng, khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương (1885), Phan Đình Phùng gạt bỏ hiềm khích cá nhân, đứng ra chiêu tập nghĩa binh tại quê nhà, xây dựng căn cứ Vụ Quang.
Cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896) do ông lãnh đạo là đỉnh cao nhất của phong trào Cần Vương. Phan Đình Phùng không chỉ là một nhà nho cầm gươm, ông còn là một nhà chiến lược quân sự tài ba.
• Ông chia nghĩa quân thành 15 quân thứ, mỗi thứ có từ 100 đến 500 quân. Nghĩa quân của ông được giữ kỷ luật và mặc quân phục như quân đội chính quy, đóng tại địa bàn 4 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. (Tổ chức của ông cũng trở thành hình mẫu cho các nghĩa quân sau này)
• Dưới sự chỉ đạo của ông, tướng Cao Thắng đã nghiên cứu và chế tạo thành công súng trường theo mẫu súng của Pháp. Đây là một kỳ tích của kỹ thuật Việt Nam lúc bấy giờ, giúp nghĩa quân thu hẹp khoảng cách về hỏa lực.
Thực dân Pháp và bù nhìn tay sai (đứng đầu là Hoàng Cao Khải) biết không thể khuất phục ông bằng quân sự, đã dùng đòn tâm lý cực kỳ tàn nhẫn: Quật mồ mả cha mẹ ông và bắt giữ anh trai ông.
Hoàng Cao Khải gửi thư chiêu dụ, nhắc đến tình xưa nghĩa cũ và đe dọa. Đáp lại, Phan Đình Phùng đã để lại một câu nói lưu danh sử sách:
“Tôi từ khi cùng chư Tướng khởi binh Cần Vương, đã có chủ tâm là bỏ cả việc gia đình quê quán ra ngoài, không nghĩ gì đến nữa. Nay tôi chỉ việc có một ngôi mộ rất to, nên giữ, là đất nước Việt Nam; tôi chỉ có một ông anh rất to, đang bị nguy vong, là mấy mươi triệu đồng bào. Nếu về mà sửa sang phần mộ của mình thì ngôi mộ cả nước kia ai giữ? Về để cứu vớt ông anh của mình, thì anh em trong nước ai cứu? Tôi bây giờ thề chỉ có một cái chết mà thôi.
— Phan Đình Phùng
Câu trả lời này khẳng định: Đối với ông, trung quân gắn liền với ái quốc, cái tôi cá nhân và gia đình đã hòa vào vận mệnh dân tộc.
Năm 1893 Cao Thắng tử trận khiến Phan Đình Phùng bị mất đi một cộng sự đắc lực. Năm 1895 Pháp điều Nguyễn Thân đến phối hợp với công sứ Nghệ An là Duvillier đem 3.000 lính đi đàn áp cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Quân chủ lực của Phan Đình Phùng bị đối phương bít đường tiếp vận, nên vũ khí, lương thực, quân số thảy đều thiếu thốn, khó bù đắp. Mỗi lần đối phương tấn công, nghĩa quân chỉ có thể chạy quanh từ núi Quạt rồi trở về núi Vũ Quang, và không thể ở đây lâu quá 3 ngày
Ngày 17 tháng 10 năm 1894, Phan Đình Phùng đã tập hợp lực lượng, đánh thắng một trận lớn, đối phương mất nhiều vũ khí và bị giết chết rất nhiều. Ban đầu, ông cho quân lên tận nguồn sông chặt cây đóng kè chặn nước lại, đồng thời chuẩn bị sẵn nhiều khúc gỗ lớn. Khi quân Pháp và quân triều thân Pháp đến giữa dòng sông, thì ông cho phá kè trên nguồn và tuôn cây xuống. Đối phương phần bị nước cuốn, phần bị cây lao vào người, lại bị nghĩa quân ở hai bên bờ xông ra đánh nên bị thương vong rất nhiều. Theo Phạm Văn Sơn (Việt sử Tân biên) thì sau trận này, phía Pháp ngoài số quân trang và đạn dược bị mất mát, còn có ba sĩ quan và trên trăm lính bị tiêu diệt.
Đây là trận thắng cuối cùng, vì gần 3.000 quân do Nguyễn Thân cầm đầu ngày càng xiết chặt vòng vây. Trong một trận giao tranh ác liệt, Phan Đình Phùng bị thương nặng rồi hy sinh vào ngày 28 tháng 12 năm 1895.
Khởi nghĩa Hương Khê là cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất (10 năm) và có địa bàn hoạt động rộng nhất trong phong trào Cần Vương. Chính sử đánh giá đây là phong trào có tính chất tự giác cao, quân đội được huấn luyện bài bản, có vũ khí tự chế tạo, không còn thuần túy là nông dân cầm giáo mác.
Cái chết của Phan Đình Phùng cũng đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần Vương – giai đoạn đấu tranh chống Pháp theo khuynh hướng phong kiến. Lịch sử Việt Nam từ đây bắt đầu chuyển sang những khuynh hướng mới (dân chủ tư sản).


