PHAN HÀNH SƠN-NGỌN LỬA TRẺ GIỮA LÒNG ĐÀ NẴNG
PHAN HÀNH SƠN-NGỌN LỬA TRẺ GIỮA LÒNG ĐÀ NẴNG
PHAN HÀNH SƠN-NGỌN LỬA TRẺ GIỮA LÒNG ĐÀ NẴNG
Phan Hành Sơn tên thật là Phan Hiệp, sinh ngày 26-10-1947 trong một gia đình có sáu anh em đều tham gia cách mạng tại thôn Bá Tùng, xã Hòa Phụng, huyện Hòa Vang (nay là phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng). Tuổi thơ của Phan Hiệp là những ngày theo cha đi làm thợ mộc, dựng nhà cửa cho các nhà giàu có trên quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng. Những ngày tháng đi theo cha làm thợ, Phan Hiệp càng có điều kiện tiếp xúc với các gia đình cơ sở của cách mạng, cán bộ hoạt động bí mật. Chính vì thế nhận thức cách mạng trong anh đã chuyển dần từ nỗi bất bình trước tội ác của giặc lên cao hơn chính là tinh thần đấu tranh giải phóng dân tộc. Chứng kiến tội ác của giặc trên quê hương, trong lòng ông và bao lớp thanh niên trai trẻ lúc bấy giờ nung nấu căm thù, mong một ngày được cầm súng đánh giặc. Tháng 2/1965, Tiểu đoàn 1 bộ binh Quảng Đà (còn gọi là R20) được thành lập và tuyển thêm quân. Khi đang cùng cha sửa nhà cho một gia đình tại xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, Quảng Nam, nghe tin cán bộ về tuyển quân lên chiến khu, chàng trai Phan Hiệp lúc đó 18 tuổi xin cha vào quân đội, bắt đầu cuộc đời lính. Trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Trí, Anh hùng LLVTND, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 bộ binh Quảng Đà, Phan Hiệp là một chiến sĩ trẻ nhưng thông minh, gan dạ, dũng cảm, trách nhiệm.
TRẬN ĐÁNH DUY XUYÊN – DÙNG ĐẠN MỸ ĐÁNH MỸ
Ngày 1/1967, giữa ruộng lúa Duy Xuyên, tiếng pháo, tiếng trực thăng, tiếng Mỹ la hét hòa vào khói lửa. Tiểu đoàn 1 phục kích một tiểu đoàn lính Mỹ và chiến đấu suốt hơn 5 tiếng đồng hồ. Khi đạn của đơn vị gần cạn, Phan Hiệp – lúc ấy là Đại đội phó – nhận ra nếu không có đạn, cả tiểu đoàn có thể bị tiêu diệt. Anh bò ra khỏi công sự, lẫn vào cỏ thấp, lao qua làn đạn như vẽ thành từng vệt lửa quanh người. Chỉ trong tích tắc, anh gom được hơn 400 viên đạn 7,62 ly từ xác lính Mỹ vừa bị hạ. Có đạn, 3 khẩu trung liên lại nổ vang. Thế trận xoay chuyển. Lính Mỹ hoảng loạn. Chiều hôm ấy, Tiểu đoàn 1 giành chiến thắng vang dội, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Đó là lần đầu tiên người ta gọi anh là “chàng trai dùng đạn Mỹ đánh Mỹ”.
Tháng 8/1967, Tiểu đoàn 1 được lệnh đánh vào chi khu quân sự Điện Bàn, nằm ở thị trấn Vĩnh Điện. Đóng vai là một người nông dân, Phan Hiệp đã quan sát cách bố phòng của địch, nhất là vị trí 2 khẩu pháo 105 ly, sau đó cùng đồng đội tiếp cận, tiêu diệt bọn pháo thủ và phá hủy 2 khẩu pháo, góp phần cùng đồng đội diệt gọn địch tại chi khu này.
Sau mùa xuân năm 1968, Tiểu đoàn 1 được lệnh tổ chức huấn luyện chiến đấu để tiêu diệt căn cứ biệt kích Non Nước của địch (đóng tại Ngũ Hành Sơn). Đây là địa điểm trọng yếu được địch bố trí lực lượng mạnh bảo vệ nhiều vòng. Đại đội 3 do Phan Hiệp làm Đại đội trưởng nhận nhiệm vụ tiêu diệt mục tiêu chủ yếu của trận đánh là sở chỉ huy địch. Khi Đại đội 3 tiếp cận hàng rào thép gai bùng nhùng cuối cùng thì địch phát hiện.
Lúc này, Phan Hiệp đã bật người lao lên nằm trên hàng rào thép gai, ra lệnh cho đồng đội lao qua người anh để tiến nhanh về phía mục tiêu, dùng pháo thủ, lựu đạn, B40 cùng tất cả các hỏa lực được trang bị đánh phủ đầu, khiến địch không kịp đối phó. Ngay sau đó, Phan Hiệp tung mình khỏi đám thép gai bùng nhùng, cùng anh em lao vào sở chỉ huy tiêu diệt địch. Các mũi tiến công khác của Tiểu đoàn 1 đã dùng hỏa lực bắn vào sân bay Nước Mặn gần đó khiến máy bay địch không thể cất cánh. Thấy căn cứ biệt kích bị tấn công, sân bay Nước Mặn bị khống chế, địch cho máy bay trực thăng từ sân bay Đà Nẵng bắn thẳng vào trận địa và triển khai lực lượng bao vây khu vực Ngũ Hành Sơn. Lợi dụng địa hình của Thủy Sơn và động Huyền Không, Phan Hiệp cùng đồng đội tiếp tục vừa đánh trả, vừa rút lui, gây thiệt hại nặng nề cho địch. Bản thân Phan Hiệp đã dùng súng bộ binh bắn rơi một trực thăng của địch.
Kết quả trận đánh, Tiểu đoàn 1 đã tiêu diệt hơn 400/500 tên thuộc tiểu đoàn biệt kích của địch tại Non Nước; phá 38 máy bay, 100 xe quân sự tại sân bay Nước Mặn. Với thành tích chiến đấu trong trận đánh này và nhiều trận đánh trước đó, chỉ huy Tiểu đoàn 1 đã thống nhất đề nghị tuyên dương Anh hùng LLVTND đối với Đại đội trưởng Phan Hiệp. Lúc đó, một nhà văn đi cùng đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị đã đề nghị đổi tên Phan Hiệp thành Phan Hành Sơn để gắn với những chiến công trên. Theo hồ sơ đề nghị tuyên dương Anh hùng LLVTND, cái tên Phan Hành Sơn chính thức bắt đầu từ đó.
Từ tấm gương Phan Hành Sơn, người chiến sĩ kiên trung, gan dạ trên chiến trường Điện Bàn, đoàn viên hôm nay có thể rút ra bài học truyền cảm hứng sâu sắc:khó khăn không phải để lùi bước, mà để chúng ta trưởng thành hơn.Phan Hành Sơn đã dấn thân vào nơi nguy hiểm nhất, dám nhận phần việc nặng nhất, dám đối mặt với cái chết để hoàn thành nhiệm vụ chung. Tinh thần ấy nhắc nhở mỗi đoàn viên phải luôn nuôi dưỡng ý chí vượt khó, tinh thần trách nhiệm và lòng dũng cảm trong mọi công việc. Dù trong học tập, lao động hay hoạt động cộng đồng, chỉ cần giữ được ngọn lửa quyết tâm, sáng tạo và dám hành động vì tập thể, mỗi người trẻ hôm nay đều có thể làm nên những chiến công nhỏ bé nhưng ý nghĩa, tiếp nối truyền thống mà các thế hệ đi trước đã để lại.


