phan huy chú
- Tên húy, tên gọi khác: Hạo, tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong
- Quê quán: thôn Thuỵ Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
- Niên đại: 1782 – 1840
- Chức nghiệp: nhà thơ, nhà thư tịch lớn, nhà bác học Việt Nam
- Công trạng: Phan Huy Chú là con của Phan Huy Ích, một nhà nho có
tiếng, đậu tiến sĩ đời nhà Hậu Lê và từng làm quan cho nhà Tây Sơn. Mẹ ông là
Ngô Thị Thực, con gái của Ngô Thì Sĩ, em gái của Ngô Thì Nhậm, bà mất khi
ông 10 tuổi. Phan Huy Chú có tên là Hạo, sau vì kiêng quốc húy của nhà
Nguyễn mới đổi là Chú, tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong.
Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng biết tiếng Phan Huy Chú, cho triệu
ông vào kinh đô Huế, cử giữ chức Biên tu trường Quốc tử giám ở Huế.
Năm Ất Dậu (1825), ông làm Phó sứ sang Trung Quốc. Khi về, được làm
Phủ Thừa Thiên, rồi thăng Hiệp Trấn Quảng Nam (1829).
Năm Tân Mão (1831), lại sung Phan Huy Chú làm Phó sứ sang nhà
Thanh (Trung Quốc). Nhưng khi về nước, thì cả đoàn sứ bộ đều bị giáng chức
(ông bị cách chức), vì tội "lộng quyền".
Năm Nhâm Thìn (1832), cho ông làm phục dịch trong phái bộ sang
Batavia (Giang Lưu Ba, Indonesia) để lập công chuộc tội.
Năm Giáp Ngọ (1834), ông được bổ làm Tư vụ bộ Công. Sau đó, vì chán
chốn quan trường, ông cáo bệnh xin về hưu ở làng Thanh Mai, thuộc huyện Tiên
Phong (nay là xã Vũ Thắng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Ở đây, ông làm
nghề dạy học và soạn sách cho đến khi mất.
Phan Huy Chú mất ngày 27/4 năm Canh Tý (28/5/1840) lúc 58 tuổi. Phần
mộ của ông hiện ở tại thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì



