PHAN QUANG TRỌNG (1912 – 1978)
Sinh ngày 27 tháng 12 năm 1912, tại làng Thọ Khương, tổng Đức Hòa, phủ Tam Kỳ, nay là thôn Thọ Khương, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đồng chí Phan Quang Trọng có quá trình hoạt động cách mạng trên 40 năm, trải qua nhiều địa bàn và lĩnh vực công tác, dù đảm nhận nhiệm vụ gì đồng chí cũng luôn hoàn thành xuất sắc, xứng đáng là một đảng viên kiên trung.
Đồng chí Phan Quang Trọng, còn có tên Phan Mễ, Phan Tuyển, quá trình hoạt động cách mạng có bí danhTrọng Tài. Cha là Phan Đình Quang, mẹ là Nguyễn Thị Muộn. Ông Phan Đình Quang làm lý trưởng làng Thọ Khương trong thời gian 2 năm nhưng luôn đứng về phía nhân dân chống lại sự áp bức của hào lý ở địa phương. Mẹ đồng chí là cơ sở nuôi giấu cán bộ và làm liên lạc cho cách mạng. Nhiều lần bà bị mật thám Pháp bắt, tra tấn dã man vì chúng cho bà che giấu cộng sản trong nhà, để con tham gia cách mạng. Người em gái kế là Phan Thị Nễ, tham gia cách mạng từ năm 1933, sau này là Tỉnh ủy viên, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Quảng Nam.
Tuổi thơ của Phan Quang Trọng trải qua những khó khăn, nhọc nhằn. Cha mất khi Phan Quang Trọng mới lên 7 tuổi, một mình mẹ phải tần tảo nuôi bốn con nhỏ và mẹ chồng già yếu. Tuy gia đình khó khăn nhưng là con trai độc nhất nên khi lên 8 tuổi, Trọng được mẹ cho đi học chữ quốc ngữ và học xong sơ học yếu lược.
Năm 1927, Phan Quang Trọng thôi học chữ quốc ngữ, sang học chữ Nho và học nghề thuốc Bắc với người bác Phan Trân. Hiếu động, thích giao du với bạn bè, nên sau một thời gian, Phan Quang Trọng thôi học nghề thuốc Bắc về nhà làm ruộng và lập gia đình. Vợ là Trần Thị Quy, người làng Vân Trai, là cơ sở nuôi giấu, tiếp tế lương thực thực phẩm cho cán bộ hoạt động bất hợp pháp, được kết nạp vào Đảng năm 1950. Thời gian ở nhà, Phan Quang Trọng ra làm hương bộ của làng Thọ Khương để hiểu hơn chuyện làng, chuyện nước. Chức không cao nhưng ít nhiều vẫn có uy lực trong làng và đây là cơ hội để Phan Quang Trọng đứng về phía người dân nghèo, bảo vệ quyền lợi của họ như người cha thân yêu trước đây đã làm, do vậy đã lãnh đạo nhân dân chống chính quyền thực dân thu thuế cao, đấu tranh với bọn hào lý để được khai thác vùng đất cấm của làng để có đất sản xuất. Cuộc đấu tranh dẫn đến xô xát, bọn hào lý phải nhượng bộ, vì thế uy tín của Phan Quang Trọng trong nhân dân được tăng lên.
Sau vụ này, Phan Quang Trọng thôi làm hương bộ và cũng là lúc phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Nam nói chung, phủ Tam Kỳ nói riêng có bước phục hồi đáng kể sau khi bị địch khủng bố năm 1935. Bấy giờ, bà nội của Phan Quang Trọng bị ốm nặng, gia đình mời thầy thuốc Nguyễn Phùng (Út Thống) đến chữa trị. Người thầy thuốc này là một đảng viên tiền bối của Đảng bộ phủ Tam Kỳ. Quá trình điều trị, Phan Quang Trọng được Nguyễn Phùng đưa sách báo, tiến bộ để đọc và tuyên truyền cách mạng. Hai người càng hiểu nhau hơn và từ đó Nguyễn Phùng tổ chức cho Phan Quang Trọng tham gia các tổ chức quần chúng biến tướng. Sau khi được giác ngộ, Phan Quang Trọng như đất hạn gặp mưa, hăng hái tham gia hoạt động cách mạng, xây dựng và làm nòng cốt trong các tổ chức quần chúng biến tướng ở địa phương, như Hội trợ tang, Hội lợp nhà, Hội cứu tế... Cùng thời gian này, người em gái Phan Thị Nễ cũng được đồng chí Nguyễn Phùng tuyên truyền, giác ngộ cách mạng.
Với những đóng góp cho phong trào cách mạng ở địa phương, tháng 8 năm 1938, Phan Quang Trọng vinh dự được các đồng chí Nguyễn Phùng và Nguyễn Sắc Kim tuyên bố kết nạp vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương, sinh hoạt tại Chi bộ ghép Vân Trai - Thọ Khương; trong chi bộ này còn có người em ruột là Phan Thị Nễ. Ngày kết nạp vào Đảng cũng là ngày đồng chí được công nhận là đảng viên chính thức của Đảng.
Qua thử thách từ thực tiễn công tác, tháng 7 năm 1939, đồng chí được tín nhiệm giữ chức Bí thư Tổng ủy Đức Hòa1. Trên cương vị này, đồng chí vận động nhân dân dự Lễ mitting kỷ niệm ngày Cách mạng Tư sản Pháp 14 tháng 7 tại Núi Chùa, Quảng Phú và treo cờ Đảng tại nội thị Tam Kỳ, qua đó để tập hợp quần chúng tuyên truyền vận động cách mạng.
10 ngày sau Lễ kỷ niệm Cách mạng Tư sản Pháp, đồng chí Phan Quang Trọng bị mật thám bắt và đưa về Tỉnh đường Quảng Nam. Bọn chúng thi nhau tra tấn cả một ngày, khi biết có người đã khai cho mình, đồng chí chỉ nhận lúc đang đi tàu lửa từ ga An Tân ra ga Tam Kỳ có nghe bàn tán về Lễ kỷ niệm và cùng 4 người dân rủ đi xem. Không khai thác được gì hơn lời khai ban đầu, chúng đưa về giam ở nhà lao tỉnh. Vào ngày 06 tháng 01 năm 1940, cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, các phủ ủy, huyện ủy bị đưa ra xét xử tại tỉnh thành Quảng Nam (La Qua), đồng chí đã tham gia phản đối phiên tòa, tố cáo tội ác của thực dân và bọn tay sai bán nước, gây tiếng vang lớn trong dư luận và bị kết án 1 năm tù giam, chuyển giam ở nhà lao Hội An.
Bốn bức tường nhà lao có thể giam hãm thân thể nhưng không thể khuất phục tinh thần đấu tranh của Phan Quang Trọng và bao đảng viên khác. Phan Quang Trọng tham gia tích cực các hoạt động do Chi bộ nhà lao tổ chức, nhất là việc học lý luận chính trị, học văn hóa. Không thuộc án nặng nhưng do tham gia đấu tranh một cách tích cực, sáu tháng sau, đồng chí bị chuyển đi nhà đày Lao Bảo cùng với các đồng chí Nguyễn Phùng, Nguyễn Xuân Nhĩ, Phan Khắc (Phan Thêm), Nguyễn Như Khuê (Xích Việt), Trần Hoài Ân (Trần Ảnh Hưởng), Võ Sạ, Nguyễn Thúy... Tại nơi giam giữ mới, đồng chí Phan Quang Trọng cùng bạn tù nhanh chóng móc nối, liên lạc, tập hợp nhau tổ chức hoạt động nhằm giáo dục lý luận chính trị, nâng cao lập trường tư tưởng, ý chí cách mạng và phẩm chất của người cộng sản, vận động lôi kéo binh lính đứng về phía cách mạng.
Cuối năm 1940, đồng chí được mãn hạn tù, về nhà chủ động liên lạc với đồng chí Nguyễn Tắc, giúp các hội viên Hội cứu tế đỏ hoạt động. Dường như không yên tâm với sự có mặt của người cộng sản vừa ra tù này ở địa phương, Phan Quang Trọng bị chính quyền thực dân đưa đi an trí ở Trà Khê (Phú Yên). Những ngày ở trại an trí, tuy chế độ quản lý không còn nghiêm ngặt nhưng đồng chí vẫn tích cực cùng anh em tổ chức các cuộc đấu tranh để cải thiện cuộc sống, để người thân được đến thăm và duy trì sinh hoạt Đảng.
Ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp, đồng chí cùng anh em tù nhân phá lao, thoát ra ngoài, chia thành nhiều nhóm để tránh địch tập trung lực lượng vây bắt. Nhóm Phan Quang Trọng có 5 người, trong đó có Trần Hoài Ân, Phan Khước... xuống vùng Đồng Bò (Phú Yên), xin vào làm việc trong một sở mía, mỗi người chia nhau ra 1 trại lãnh đạo công nhân đấu tranh đòi tăng lương. Được môt tháng, nghi có cộng sản hoạt động, lôi kéo công nhân đấu tranh, địch cho lính truy tìm và bắt cả 3 đồng chí tại Đất Đỏ. Tại đây, lợi dụng lúc đông người, các đồng chí trốn thoát, sau đó tìm đường về Quảng Nam.
Trở về địa phương cũng là lúc phong trào cách mạng ở Quảng Nam đã khôi phục và phát triển. Chưa kịp nghỉ dưỡng sức, đồng chí chủ động bắt nối hoạt động cách mạng và tại Hội nghị Tỉnh ủy vào tháng 6 năm 1945, đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy lâm thời, làm Trưởng ban Quân sự1. Xác định lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt cho nhân dân nổi dậy giành chính quyền, khi có thời cơ đồng chí Phan Quang Trọng đã tập trung xây dựng và phát triển lực lượng tự vệ rộng khắp, nhất là các địa phương phía nam phủ Tam Kỳ. Đáng kể, đồng chí đã góp phần xây dựng Đội Du kích Vũ Hùng, tiền thân của Lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam, ngày một lớn mạnh, trực tiếp phụ trách các làng Vân Trai, Long Bình, Tịch Tây, Thọ Khương thuộc tổng Đức Hòa; còn đồng chí Bảy Tín phụ trách các làng An Hòa, Xuân Quang, Diêm Trường thuộc tổng An Hòa. Sở dĩ các đồng chí dựa vào hai khu vực này vì lúc bấy giờ cơ sở Đảng và phong trào cách mạng ở nam Tam Kỳ phát triển tương đối mạnh hơn so với địa phương khác. Các đội du kích hoạt động dưới hình thức bán thoát ly, ban ngày sống hợp pháp, lao động như mọi người dân khác, ban đêm tập trung huấn luyện. Sau một thời gian, Đội du kích do Phan Quang Trọng phụ trách đã phát triển lên 30 người, đội do đồng chí Bảy Tín (Bùi Tín) phụ trách phát triển lên 40 người và đến tháng 7 năm 1945, số lượng tăng lên 5 lần so với thời điểm tháng 5. Không dừng lại ở khu vực phía nam phủ Tam Kỳ, tháng 8 năm 1945, khi thời cơ giành chính quyền đã đến, đồng chí chọn 30 đội viên xuất sắc bổ sung cho các phủ, huyện để làm nòng cốt, phụ trách công tác huấn luyện cho các đội tự vệ, hỗ trợ nhân dân đứng lên giành chính quyền. Tại cuộc họp Tỉnh ủy vào ngày 13 tháng 8 năm 1945, đồng chí Phan Quang Trọng được cử làm Ủy viên Ủy ban bạo động khởi nghĩa tỉnh1.
Theo kế hoạch chỉ đạo của phủ Tam Kỳ, các địa phương phía Nam Tam Kỳ sẽ tiến hành khởi nghĩa trước mà điểm đầu tiên là các làng Vân Trai, Thọ Khương. Đúng 7 giờ tối ngày 18 tháng 8 năm 1945, với tư cách thành viên Ủy ban bạo động khởi nghĩa của tỉnh phụ trách cánh Nam phủ Tam Kỳ, đồng chí Phan Quang Trọng trực tiếp đánh trống lệnh báo hiệu cuộc khởi nghĩa bắt đầu, tập hợp quần chúng về chợ Trạm (nay thuộc xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành), tổ chức tuần hành, thị uy, giành chính quyền. Phát huy thắng lợi, cùng các đồng chí Lê Thanh Hải - Tỉnh ủy viên, Huỳnh Thanh chỉ huy quần chúng và lực lượng tự vệ bao vây chiếm đồn Thương Chánh, chiếm ga An Tân và kéo ra hỗ trợ giành chính quyền ở phủ lỵ Tam Kỳ.
Sau khi các phủ, huyện đồng bằng khởi nghĩa giành thắng lợi, đồng chí được giao nhiệm vụ tiếp tục chỉ huy lực lượng đi tước vũ khí quân địch ở vùng núi Bến Giằng và Trà My; qua thuyết phục binh lính các đồn bảo an nơi đây đã đồng ý giao nộp vũ khí và đồn cho lực lượng cách mạng.
Có thể nói Đội du kích Vũ Hùng đã làm tròn trách nhiệm của mình trong việc hỗ trợ quần chúng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và cũng đặt nền móng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang tập trung về sau của tỉnh Quảng Nam. Trong đó, vai trò chỉ huy của đồng chí Phan Quang Trọng là rất đáng ghi nhận. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Nam được thành lập; đồng chí Phan Quang Trọng được phân công làm Ủy viên quân sự.
Trước yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, cùng với công cuộc vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng “khẩn trương tập hợp các đội du kích và tự vệ, tổ chức thành các đơn vị giải phóng quân”, Tỉnh ủy Quảng Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang tập trung. Tỉnh thành lập Chi đội 1 Giải phóng quân, quân số 1.500 người được tuyển chọn từ các đội du kích trong cuộc khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở các địa phương, trong đó đội viên Đội du kích Vũ Hùng làm lực lượng nòng cốt.
Với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và trên cương vị Ủy trưởng Quân sự, đồng chí Phan Quang Trọng được phân công làm Chi đội trưởng, Bí thư Đảng đoàn Giải phóng quân tỉnh Quảng Nam[1]. Thành phố Đà Nẵng lúc này thành lập Đại đội Phan Thanh, gồm 4 trung đội nam và 1 phân đội nữ.
Giữa tháng 9 năm 1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Giải phóng quân đổi thành Vệ quốc đoàn. Theo đó, Chi đội 1 Giải phóng quân của Quảng Nam đổi tên thành Chi đội Vệ quốc đoàn Trần Cao Vân. Đây là một trong số 13 Chi đội Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Nam Trung bộ.
Sang đầu năm 1946, hai đơn vị vũ trang của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng sát nhập thành một Chi đội có 4 đại đội, 2 trung đội nữ; đồng chí Phan Quang Trọng được cử giữ chức Chi đội trưởng kiêm Bí thư Đảng đoàn, đồng chí Nguyễn Mạnh Thường làm Chi đội phó, đồng chí Võ Toàn (Võ Chí Công) làm Chính trị viên. Bên cạnh xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh, đồng chí còn chỉ đạo tổ chức huấn luyện vệ quốc quân tăng cường cho các địa phương cực Nam Trung bộ tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Pháp trở lại xâm lược.
Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra Sắc lệnh 71/SL, đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, nêu nguyên tắc về tổ chức, biên chế, quân phong, quân kỳ, lễ nghi của quân đội và chia cả nước ra làm 12 chiến khu, trong đó Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai thuộc chiến khu 5. Căn cứ vào Sắc lệnh đó, các chi đội Vệ quốc quân ở Trung bộ và Bắc bộ tổ chức, biên chế thành các trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Theo chỉ thị của Bộ Quốc phòng, ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Chi đội Giải phóng quân đổi thành Trung đoàn Vệ quốc quân, lấy phiên hiệu Trung đoàn 93. Trung đoàn có 3 tiểu đoàn: 100, 101, 102 và cơ quan Trung đoàn bộ tương đối hoàn chỉnh. Đồng chí Phan Quang Trọng được cử làm Đảng ủy viên, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 93[2].
Giữa năm 1946, đồng chí được cử đi học bổ túc kiến thức quân sự, thời gian 2 tháng, học xong được phân về công tác ở bộ phận thanh tra quân chính của Bộ Tư lệnh khu 5, cấp bậc Trung đoàn trưởng. Tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, đồng chí được Phòng Chính trị - Bộ Tư lệnh Quân khu 5 phân công phụ trách lực lượng dân quân liên tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Khoảng giữa năm 1947, đồng chí được Tỉnh ủy và Ủy ban Kháng chiến Quảng Nam - Đà Nẵng phân công thành lập Hội đồng tự túc, tự cấp, thành lập chiến khu và căn cứ địa ở vùng miền núi trong tỉnh, làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc kháng chiến của quân và dân địa phương. Kết quả, toàn tỉnh xây dựng được nhiều chiến khu ở vùng núi Bến Hiên, Đại Lộc, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ... Các chiến khu, căn cứ địa này đã giữ vai trò quan trọng trong sản xuât lương thực, thực phẩm, làm nơi đứng chân cho lực lượng vũ trang tập trung của tỉnh sau khi tham gia các chiến dịch ở vùng địch tạm chiếm để nghỉ ngơi và huấn luyện.
Sang năm 1952, trên chiến trường Liên khu 5, ta mở nhiều chiến dịch lớn, nhu cầu lương thực, thực phẩm và vũ khí tăng lên. Với kinh nghiêm trong công tác hậu cần, đồng chí Phan Quang Trọng được Liên khu ủy phân công phụ trách Phân ban vận tải vũ khí từ Liên khu 4 vào tỉnh Bình Định để từ đây phân phối cho các chiến trường phía Nam. Sang năm 1953, nhằm đáp ứng cho nhu cầu vận tải đang tăng lên, nhất là phục vụ cho chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Liên khu 5 thành lập Tiểu đoàn độc lập 240 để làm nhiệm vụ vận tải thủy bộ; đồng chí Phan Quang Trọng được cử làm Đảng ủy viên, Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cung cấp kịp thời vũ khí, đánh bại các âm mưu của địch, nhất là chiến dịch Át-lăng, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân liên khu 5 đi đến thắng lợi.
Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí tập kết ra miền Bắc. Ban đầu tham dự khóa chỉnh huấn thực hiện cải cách ruộng đất và được phân công tham gia chỉ đạo cải cách ruộng đất ở một số địa phương. Từ năm 1956, được điều về Sư đoàn 305, làm Tiểu đoàn trưởng, Đảng ủy viên Tiểu đoàn, sau đó đơn vị chuyển vào tỉnh Thanh Hóa sát nhập với Trung đoàn 79, rồi vào tỉnh Nghệ An.
Lúc bấy giờ, ta chủ trương xây dựng các nông trường quân đội để giải quyết số cán bộ, chiến sỹ quân đội phục viên, chuyển ngành. Tháng 11 năm 1957, Nông trường Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) được thành lập, đồng chí được phân công giữ chức vụ Giám đốc. Đây là Nông trường của quân đội, chuyên trồng lúa và hoa màu, chăn nuôi. Từ cuối năm 1960, đồng chí chuyển sang làm Giám đốc Nông trường Bãi Phủ (huyện Anh Sơn), chuyên trồng cà phê. Năm 1962, đồng chí chuyển ngành và đến năm 1964, nghỉ hưu theo chế độ, chuyển về sống cùng gia đình tại Hà Nội.
Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cũng như nhiều người con miền Nam tập kết ra miền Bắc, đồng chí trở về quê hương. Bao khó khăn đang đợi chờ gia đình cũng như người dân địa phương vừa bước ra khỏi chiến tranh. Hậu quả chiến tranh để lại nặng nề, miếng cơm, manh áo hàng ngày tưởng chừng như chuyện đơn giản nhưng đối với đa số người dân xã Tam Hiệp - một địa bàn ác liệt trong những năm kháng chiến chống Mỹ, vẫn còn là điều xa vời. Với tư cách người đảng viên cộng sản có quá trình hoạt động lâu dài và có nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng tại địa phương, mặc dù sức khỏe đã giảm sút nhưng đồng chí không từ chối bất cứ nhiệm vụ nào do Đảng phân công và được tín nhiệm cử giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy xã Tam Hiệp. Đang lúc hăng say công tác góp phần sức lực cuối cùng cho quê hương thì ngày 20 tháng 11 năm 1978, căn bệnh huyết áp đã cướp đi lão đồng chí kiên trung của quê hương Tam Hiệp trong niềm tiếc thương vô hạn của người thân và đồng chí, đồng đội.
Hai lần bị tù với thời giam 6 năm, trải qua nhiều nhà lao nhưng ý chí và tinh thần người cộng sản ở đồng chí vẫn ngời sáng; sự tra tấn dã man của kẻ thù không làm đồng chí xao lòng, ngược lại càng làm cho đồng chí tin yêu ở Đảng và nhân dân, càng ra sức cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Những năm sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, điều kiện hoạt động thuận lợi hơn, đồng chí càng hăng say hoạt động và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đáng kể là đồng chí đã góp phần xây dựng lực lượng vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh, tạo nền móng cho việc xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh sau này. Khi tập kết ra miền Bắc, bấy giờ chủ trương chuyển quân đội tham gia làm kinh tế, nhiều vấn đề mới đặt ra, tất cả đều chưa quen việc nhưng đồng chí vẫn được tín nhiệm cử làm Giám đốc Nông trường, góp phần tạo ra lương thực, thực phẩm cho quân đội, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Ghi nhận những công lao của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng: Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng; Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Ba và nhiều phần thưởng khác.
1 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tổng Đức Hòa đổi tên thành tổng Đào Hoa. 1 Lý lịch đảng viên của đồng chí Phan Quang Trọng ghi: Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945, làm Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ và lâm thời Tỉnh ủy viên Quảng Nam, phụ trách quân sự toàn tỉnh. Tuy nhiên tập “Lịch sử Đảng bộ huyện Tam Kỳ (1930-1954)”, xuất bản tháng 01/2007, tr.143, khi đề cập đến việc thành lập lại Phủ ủy Tam Kỳ, không đề cập đồng chí Phan Quang Trọng làm Bí thư Phủ ủy. Vấn đề này, Ban biên soạn sẽ tiếp tục xác minh. 1 Lý lịch đảng viên của đồng chí Phan Quang Trọng ghi: Từ ngày 10 tháng 8 đến tháng 9 năm 1945, làm Phó trưởng Ban bạo động tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên qua xác minh, trong cơ cấu tổ chức của Ủy ban bạo động khởi nghĩa tỉnh không có chức danh Phó trưởng Ban, 5 đồng chí Ủy viên thường trực, gồm Trần Văn Quế, Nguyễn Thúy, Lê Thanh Hải, Võ Chí Công (Võ Toàn), Nguyễn Xuân Nhĩ (Xem Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng, 1930 - 1975, Nxb.CTQG, H. 2006, tr.184). [1] Thời gian này, quân đội được tổ chức theo Tiểu đội, Phân đội, Trung đội, Đại đội, Chi đội. [2] Lý lịch đảng viên của đồng chí Phan Quang Trọng ghi Đảng ủy viên, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 93. Sách “Quảng Nam- Đà Nẵng – Lịch sử chiến tranh nhân dân, tập I (1945-1954)”, Bộ Chỉ huy Quân sự Quảng Nam – Đà Nẵng xuất bản năm 1994, ghi khi thành lập Trung đoàn 93, đồng chí Nguyễn Mạnh Thường làm Trung đoàn trưởng. tr.67. Sách “Một thời chống Pháp – chống Mỹ và những kỷ niệm trong hòa bình” của Ban Liên lạc truyền thống Trung đoàn 93, Nxb. Đà Nẵng, xuất bản tháng 01/2010, ghi nhận: Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 93 là đồng chí Nguyễn Mạnh Thường. Về vấn đề này, Ban biên soạn sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ.


