Bài viết

PHAN THỊ NỄ (1915- 1998)

Đà Nẵng24/11/2025Đoàn xã Tam Xuân (Đoàn xã Tam Xuân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đảng bộ tỉnh Quảng Nam luôn tự hào đã giáo dục và rèn luyện được nhiều đảng viên trung kiên, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đặc biệt, trong hàng ngũ đảng viên trung kiên đó có không ít người là nữ và một trong những người như thế là đồng chí Phan Thị Nễ.

Đồng chí Phan Thị Nễ, bí danh là Tân, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1915, tại làng Thọ Khương, tổng Đức Hòa, phủ Tam Kỳ, nay là thôn 6, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Giàu nhiệt huyết, gan dạ, tháo vát là những đức tính cao quý ở đồng chí Phan Thị Nễ.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha lại mất sớm, anh em đông, lên 18 tuổi, Phan Thị Nễ phải vào Sài Gòn làm công cho một người Pháp có vợ là người Việt Nam. Được một thời gian, chán cảnh tôi tớ, Phan Thị Nễ trở về quê vừa học nghề may, vừa học chữ quốc ngữ.

Tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình, lại chứng kiến cảnh nô lệ lầm than của nhân dân, khác với nhiều người phụ nữ đương thời chỉ an phận, chuyên tâm lo việc gia đình, Phan Thị Nễ sớm biểu lộ mong muốn tham gia đấu tranh để giành lại quyền sống cho con người. Tiền dành dụm được, Phan Thị Nễ mua sách, báo tiến bộ, nhờ đó dần dần đã tiếp cận các khái niệm tự do, bình đẳng và nhất là biết được niềm hạnh phúc của người phụ nữ nước Nga dưới chế độ xã hội chủ nghĩa; đặc biệt ước mong người phụ nữ Việt Nam cũng được hưởng các quyền như người phụ nữ ở nước Nga.

Giữa lúc đó, Phan Thị Nễ được gặp đồng chí Nguyễn Phùng (Nguyễn Thống) lúc này là Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ. Được tuyên truyền, giác ngộ, Phan Thị Nễ đã hiểu thân phận người dân mất nước và muốn tự giải phóng mình, người phụ nữ không có con đường nào khác là phải làm cách mạng. Ban đầu Phan Thị Nễ được giao làm nhiệm vụ liên lạc, sau được giao vận động chị em phụ nữ. Trong vai người đi mua lá dâu nuôi tằm, Phan Thị Nễ đã làm tròn nhiệm vụ liên lạc cho cơ sở Đảng ở phủ Tam Kỳ và che được mắt địch.

Năm 1936, cao trào đấu tranh đòi dân sinh - dân chủ phát triển rộng khắp; nhiều tổ chức quần chúng hình thành. Tại Thọ Khương, Phan Thị Nễ được giao nhiệm vụ đứng ra thành lập tổ tương tế ái hữu gồm 47 chị em hoạt động công khai. Nhờ năng nổ và khôn khéo, tháng 7 năm 1937, Phan Thị Nễ được đồng chí Trần Học Giới là Tỉnh ủy viên giới thiệu ra Đà Nẵng làm liên lạc cho Xứ ủy Trung Kỳ. Địa bàn liên lạc chủ yếu là Huế và Đà Nẵng và trong điều kiện luôn bị mật thám theo dõi nhưng Phan Thị Nễ luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ với sự kiên định: “Nếu không may rơi vào tay địch; bị tra tấn đến chết vẫn nhất định không khai báo”.

Với những đóng góp trên, ngày 15 tháng 4 năm 1938, Phan Thị Nễ được vinh dự đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương và sinh hoạt tại chi bộ ghép Thọ Khương - Vân Trai.

Tháng 4 năm 1939, phong trào cách mạng ở một số nơi của Quảng Nam bị vỡ, nhiều tổ chức quần chúng, nhiều cơ sở Đảng bại lộ. Ở Thọ Khương, tổ phụ nữ tương tế ái hữu cũng rơi vào tình trạng trên. Đồng chí Phan Thị Nễ cùng nhiều chị em khác bị bắt giam ở nhà lao phủ Tam Kỳ. Không khai thác được gì, chúng thả các chị em về, riêng đồng chí Phan Thị Nễ bị chuyển ra nhà lao tỉnh Quảng Nam (Vĩnh Điện).

Cho đến tháng 7 năm 1939, do kiên quyết không khai, địch không có cơ sở kết án nên buộc phải thả đồng chí ra. Không nhụt ý chí, khi về nhà, đồng chí đã báo cáo tình hình nhà lao cho tổ chức biết và tiếp tục nhận nhiệm vụ làm liên lạc. Đây cũng là lúc đồng chí Nguyễn Xì (Nguyễn Thành Nghi), Tỉnh ủy viên Quảng Ngãi ra Thọ Khương tránh địch đang truy nã. Bằng sự mưu trí, đồng chí đã che chở cho người cán bộ tỉnh bạn thoát khỏi bàn tay địch và cũng vì thế cả gia đình bị bọn mật thám đánh đập dã man vì chúng nghi ngờ có liên quan.

Không tìm ra đồng chí Nguyễn Xì, tháng 12 năm 1939, bọn địch bắt đồng chí Phan Thị Nễ và một số người khác giam ở nhà lao tỉnh Quảng Nam. Bị tra tấn cực kỳ dã man, một số người đã khai nhưng đồng chí Phan Thị Nễ kiên quyết không nhận. Tuy vậy, đồng chí vẫn bị bọn chúng kết án đồng chí 3 năm tù giam và chuyển xuống giam ở nhà lao Hội An, bị ghép vào loại tù nhân “nguy hiểm”. Trong biên bản giao nhận tù của bọn cai tù, bao giờ tên Phan Thị Nễ cũng có chữ “Isolé”, có nghĩa là giam riêng (xà lim). Bị giam riêng, đồng chí tuyên bố nếu chúng không thả khỏi xà lim sẽ đấu tranh đến cùng và quyết định tuyệt thực 9 ngày. Tuyệt thực đến ngày thứ 7, anh em tù nhân biết được, những người đã khai báo trước đây đều phản cung và đòi thả Phan Thị Nễ ra khỏi xà lim. Hoảng sợ trước làn sóng đấu tranh của tù chính trị tại nhà lao Hội An, 9 ngày sau bọn cai tù phải đưa đồng chí ra khỏi xà lim.

Sau đó đồng chí bị địch chuyển ra giam ở nhà lao tỉnh Quảng Bình. Tại đây cứ mỗi lần có dịp ra khỏi phòng giam, đồng chí đều tranh thủ tiếp chuyện với nhiều người. Đặc biệt đồng chí chiếm được cảm tình của chị em tù, trên cơ sở đó đã thành lập ngay một tổ tương tế gồm 7 người. Đồng chí còn thuyết phục cảm hóa bọn coi tù và được bọn này nới lỏng chế độ kiểm sóat tù nhân.

Nhân dịp tên Phó Công sứ tỉnh Quảng Bình đến thăm nhà lao, đồng chí chặn hắn để đòi hỏi quyền lợi cho tù nhân mặc dù vẫn biết nó sẽ không giải quyết. Đúng như dự đoán, tên Công sứ đã từ chối những yêu sách nêu ra, đồng chí quyết định tuyệt thực 11 ngày để phản đối. Tuy nhiên trong những ngày tuyệt thực, đồng chí vẫn được tổ chức tương tế của anh chị em tù và một số cai ngục tiến bộ tiếp tế nước cháo, đường phèn cho nên sức khỏe không suy giảm nhiều. Đến ngày thứ 9, địch buộc phải đưa bác sĩ đến khám và giải quyết các yêu cầu về quyền lợi cho tù nhân. Phát huy thắng lợi, đồng chí chuyển sang vận động giác ngộ số tù nhân phạm tội về kinh tế. Kết quả anh chị em tù kinh tế cũng tham gia đấu tranh đòi cải thiện bữa ăn, đòi quần áo; có lần anh chị em chỉ bỏ ăn một ngày, lập tức tên phó sứ phải đến giải quyết.

Ở nhà lao Quảng Bình được một năm, đồng chí lại bị địch chuyển vào nhà lao Nha Trang. Tại đây chúng bắt đồng chí đi lao dịch với tù nhân phạm tội về kinh tế nhưng lại giam riêng. Đồng chí kiên quyết phản đối âm mưu này của địch và kiên quyết không đi lao dịch mặc dù bị đánh đập dã man. Không dừng lại ở đó, đồng chí tuyệt thực 7 ngày, buộc địch phải cho giam chung với tù kinh tế. Đáng lưu ý, đồng chí còn tham gia sinh hoạt Đảng cùng chi bộ với các đồng chí Nguyễn Văn Ưng (Tấn), Hoàng Hữu Chấp, Nguyễn Cự và đã cùng chi bộ lãnh đạo tù nhân đấu tranh đòi cải thiện chế độ giam cầm, nhất là không chịu ăn cơm với cá thối của bọn cai thầu, nhiều lần buộc chúng phải thay cá thối bằng trứng. Sau cuộc đấu tranh này, địch chuyển đồng chí Nguyễn Văn Ưng lên nhà lao tỉnh Khánh Hòa, đồng chí Hoàng Hữu Chấp lên nhà đày Buôn Ma Thuột; còn đồng chí Phan Thị Nễ bị chúng giam riêng, không giam chung với tù kinh tế như trước. Phòng giam mới lại gần bót các anh chị em tù chính trị bị kết án 20 năm tù giam, nên đồng chí đã tìm mọi cách để liên hệ với tù chính trị để tổ chức các cuộc đấu tranh khác. 18 tháng sau, đồng chí Phan Thị Nễ được chuyển về nhà lao Hội An và đến tháng 01 năm 1943 được ra tù.

Về đến nhà, địch bắt đi an trí nhưng đồng chí kiên quyết chống lại và mặc dù bọn lý hương theo dõi gắt gao nhưng hai tháng sau, đồng chí đã liên lạc được với tổ chức Đảng ở địa phương. Đêm ngày 12 tháng 3 năm 1943, nhận được quyết định thoát ly, đồng chí lên đường ra Trà Kiệu (Duy Xuyên) để tiếp tục hoạt động. Tại đây đồng chí tập trung sức tham gia phát động quần chúng, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng.

Huyện Tiên Phước lúc này được Tỉnh ủy chọn làm nơi xây dựng thành căn cứ của tỉnh và giao cho các đồng chí Phan Thị Nễ, Nguyễn Hàng chịu trách nhiệm công việc này. Được một thời gian, do một số cơ sở bị lộ, khai báo nên địch biết nơi ăn ở hoạt động của nhiều cán bộ, đảng viên ở huyện Tiên Phước. Một hôm đang tham gia cuộc họp do đồng chí Võ Toàn tổ chức ở làng Thạnh Bình (nay thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), bọn mật thám bất ngờ ập đến vây nhà, đồng chí Phan Thị Nễ nhanh chóng thoát ra cửa sau, nhảy qua bờ rào nhưng không may bị bọn mật thám bắn bị thương. Mặc dù vậy, đồng chí cố lách vào rừng và thiếp đi. Tỉnh lại đồng chí tự băng vết thương và lần mò về nơi ở và cùng đồng chí Nguyễn Hàng, chuẩn bị mọi thứ để hôm sau trở lại phủ Tam Kỳ. Hôm sau, giữa đường xuống Tam Kỳ thì đồng chí cùng đồng chí Nguyễn Hàng bị địch bắt. Lần này chúng đưa đồng chí lên giam ở nhà lao huyện Tiên Phước. Nhờ cảm hóa được số cai tù nên đồng chí được chúng nới lỏng sự kiểm sóat và thường xuyên tháo gông xiềng vào ban đêm. Thấy địch sơ hở, đồng chí dự định bỏ trốn nhưng không thành. Tại đây, mỗi ngày, mật thám Pháp đến tra tấn ít nhất hai lần và cứ qua mỗi ngày đồng chí suy nghĩ: Cố chịu đựng được một ngày ắt đã chiến thắng chúng một ngày. Dùng mọi hình thức tra tấn, thấy không khai thác được gì, chúng lại đưa đồng chí về nhà lao Tam Kỳ, rồi đưa ra nhà lao tỉnh Quảng Nam để xét xử.

Trả lời câu hỏi của tên Chánh án tại phiên tòa: “Mày làm được gì với hai bàn tay không ? ”. Đồng chí dõng dạc đáp: “Tôi biết vì sao tôi ở tù, vì tôi đi vận động nhân dân đứng lên giải phóng đất nước... Thử hỏi, làm vậy có tội gì ? Các ông còn ôm chân đế quốc. Các ông hãy thử làm như tôi, ai cũng như tôi thì nước nhà đã độc lập rồi. Chúng ta đều là người Việt Nam cả, tại sao các ông không suy nghĩ cho kỹ, nếu ai cũng đồng tình chống Pháp thì thằng Pháp đã cút đi từ lâu rồi. Mang cái nhục mất nước mà các ông không biết sao?”. Tên Chánh án tức tối quát: “Im ngay”. Sau đó, đồng chí bị chúng chuyển xuống nhà lao Hội An và bị kết án 5 năm tù giam.

Lúc này số tù nhân nữ ở nhà lao Hội An tăng lên đáng kể, trong đó có nhiều chị em rất kiên cường, gan dạ. Để tập hợp và lãnh đạo chị em đấu tranh, đồng chí tham gia thành lập chi bộ Đảng bên bót phụ nữ và được cử làm Bí thư chi bộ. Trên cương này, đồng chí đã tham gia lãnh đạo tù nhân đấu tranh chống lại chế độ giam cầm hà khắc, đòi cải thiện ăn uống, đòi được ra ngoài hít thở không khí trong lành; giúp đỡ những tù nhân đau ốm; tổ chức cho chị em học văn hóa, học chính trị, thông tin thời sự, tìm mọi cách giữ liên lạc với các lao giam tù nhân nam.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, đồng chí Phan Thị Nễ được ra tù. Về lại địa phương, đồng chí nhanh chóng bắt nối lại với các cơ sở cũ và các đồng chí vừa ra tù để tổ chức hoạt động. Tháng 5 năm 1945, tại Hội nghị Tỉnh ủy tổ chức tại Thọ Khương, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, trở thành nữ Tỉnh ủy viên đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam và được phân công phụ trách công tác binh vận.

Những ngày cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí được cử vào Ban vận động khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh Quảng Nam. Hội An lúc này là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, nơi tập trung nhiều binh lính. Đồng chí Phan Thị Nễ với kinh nghiệm của mình đã được cử về Hội An để làm công tác vận động binh lính địch. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hội An thắng lợi, liền sau đó đồng chí tham gia đi hỗ trợ các phủ, huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước khởi nghĩa giành chính quyền.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, trong buổi lễ ra mắt Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh vào ngày 02 tháng 9 năm 1945, đồng chí được cử làm Ủy viên, Trưởng ty cứu tế xã hội.

Sang năm 1946, đồng chí được phân công phụ trách tài chính của Tỉnh bộ Việt Minh, được bầu vào Hội đồng Nhân dân tỉnh, sau đó được phân công làm Bí thư phụ nữ cứu quốc tỉnh Quảng Nam. Năm 1947, đồng chí được bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam phụ trách công tác tiếp tế cho mặt trận Đà Nẵng.

Những năm 1948 - 1949, đồng chí được điều về công tác ở Hội phụ nữ Liên khu 5, phụ trách công tác phụ nữ tỉnh Bình Định. Tại Đại hội hợp nhất Đòan phụ nữ cứu quốc và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Liên khu 5 tổ chức vào tháng 6 năm 1951, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ Liên khu. Đồng chí còn được cử làm ủy viên Ban Chấp hành Nông hội Liên khu 5.

Đầu năm 1952, đồng chí được Liên khu ủy 5 điều về công tác tại tỉnh Quảng Nam. Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ III tháng 03 năm 1952, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và được phân công làm Bí thư Hội phụ nữ tỉnh Quảng Nam. Năm 1953, đồng chí được cử tham gia Đảng Đoàn phụ nữ Liên khu 5.

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đến tháng 11 năm 1954, đồng chí tập kết ra miền Bắc và tham gia Ban giám đốc trại Nhi đồng miền Nam. Bấy giờ Đảng ta chủ trương đưa cán bộ về các địa phương để tham gia chỉ đạo sửa sai việc thực hiện chính sách cải cách ruộng đất; đồng chí được phân công về tỉnh Bắc Giang. Xong chuyến công tác này, đồng chí được cử đi học văn hóa ở trường Bổ túc văn hóa công nông. Kết thúc chương trình học văn hoá, tháng 9 năm 1960 đến năm 1962, đồng chí được Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phân công vào công tác ở tỉnh Quảng Bình, tham gia Đảng đoàn phụ nữ tỉnh, trúng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh và ủy viên Ủy ban hành chính tỉnh.

Những năm 1963 - 1964, đồng chí trở lại Hà Nội và công tác tại Tòa phúc thẩm, Tòa án Nhân dân Tối cao và từ năm 1965 đến năm 1966, được cử đi học ở trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Tháng 7 năm 1967 đến đầu năm 1970, đồng chí được Đảng cử vào đến chiến trường miền Nam và tham gia Ban Chấp hành Nông vận Khu 5. Tháng 4 năm 1970 do sức khỏe yếu, đồng chí được ra miền Bắc để chữa bệnh; sau đó về công tác ở Ban Tổ chức Trung ương Đảng đến lúc được nghỉ hưu theo chế độ vào tháng 01 năm 1975. Do tuổi cao, sức khỏe ngày một giảm sút, đồng chí Phan Thị Nễ từ trần vào ngày 01 tháng 01 năm 1998.

Có thể nói hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Phan Thị Nễ đã phấn đấu liên tục, tận tụy và trung thành vô hạn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Khó khăn, gian khổ, ác liệt, tù đày với những đòn tra tấn rất dã man của kẻ thù nhưng bao giờ đồng chí vẫn bị khuất phục, đặc biệt càng tôi luyện thêm ý chí và lòng quả cảm. Suốt cuộc đời, đồng chí Phan Thị Nễ luôn chăm lo cho lợi ích của sự nghiệp cách mạng, đấu tranh giữ gìn sự trong sáng của Đảng, quan tâm đến đồng chí, bạn bè, người thân; sống nhân hậu, giản dị, liêm khiết, gương mẫu được mọi người thương mến.

Không chỉ một lòng một dạ vì sự nghiệp cách mạng, đồng chí Phan Thị Nễ còn là một người vợ rất mực thủy chung, người mẹ mẫu mực của các con, người con dâu hiếu thảo. Đồng chí đã tạo điều kiện cho chồng là đồng chí Võ Chí Công toàn tâm toàn ý tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng của tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng nói riêng, phong trào cách mạng của Khu 5 và cả nước nói chung; hết lòng chăm sóc mẹ chồng; tần tảo nuôi dưỡng và giáo dục các con trưởng thành.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
PHAN THỊ NỄ (1915- 1998) | Câu chuyện thời hoa lửa