PHẦN THỨ NHẤT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)
Sau Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, từng bước khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa-xã hội, tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Ở miền Nam, Mỹ thay chân Pháp, ảm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Âm mưu cơ bản của Mỹ nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam, ngăn chặn sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ và CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Đất nước ta tạm thời chia làm 2 miền với hai nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng chung nhiệm vụ chiến lược
| I- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1954 ĐẾN ĐẦU NĂM 1960 Sau khi ký Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp phải rút quân về nước, công nhận chủ quyền, độc lập dân tộc ba nước Đông Dương. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi. Tuy nhiên, theo quy định của Hiệp định, vĩ tuyến 17 được lấy làm giới tuyến quân sự tạm thời, phân chia hai miền Nam - Bắc, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Từ đây, cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mối trong điều kiện đất nước tạm thời chia làm 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tạm thời dưới sự thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta để giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà phải tiếp tục trong một thời gian dài, hết sức gay go và quyết liệt. Ở miền Bắc, sau khi quân đội Pháp rút vào Nam, nhân dân ta phải tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định cuộc sống, củng cố xây dựng miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cả nước, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện một nước Việt Nam hòa bỉnh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Trước mắt, miền Bắc phải đối mặt với những khó khăn do hậu quả của gần một thế kỷ thuộc địa và 9 năm kháng chiến chống thực dân pháp; nhiều tàn dư của chế độ cũ để lại và các thế lực phản động thân Pháp tiếp tục chống phá cách mạng. Khi có Hiệp định đình chiến, địch cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam; đồng thời cài lại nhiều toán gián điệp, các tổ chức phản động để nắm tình hình, gày rối, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Miền Nam tạm thời thuộc quyền kiểm soát của địch; lực lượng cách mạng ở miền Nam phải tập kết ra Bắc. Tình hình đó có tác động mạnh tới tâm tư, tình cảm của đồng bào, đồng chí miền Nam và đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vô cùng khó khăn, phức tạp. Từ lâu, Mỹ đã âm mưu thay chân Pháp độc chiếm Đông Dương. Nhân cơ hội Pháp bại trận, Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự và đồng đôla để hất cẳng Pháp. Âm mưu cơ bản của Mỹ là chia cắt lâu dài đất nước ta, thôn tính miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, ngăn chặn phong trào cộng sản ở khu vực Đông Nam Á; đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ tiến công miền Bắc Việt Nam, uy hiếp phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới. Thực hiện âm mưu chiến lược này, Mỹ đã thỏa thuận với Pháp, dựng lên một chính quyền tay sai thân Mỹ ở miền Nam. Ngày 16-6-1954, Mỹ ép Pháp và Bảo Đại huộc Thủ tướng Bửu Lộc từ chức, đưa Ngô Đình Diệm lên thay. Ngày 7-7-1954, nội các bù nhìn mớỉ thân Mỹ thành lập do Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng quốc phòng. Đến tháng 6-1955, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng được một lực lượng quân sự gồm 10 sư đoàn bộ binh, hàng chục trung đoàn độc lập với một Bộ Tổng tham mưu hoàn toàn thân Mỹ. Cố vấn Mỹ được cài cắm sâu trong Phủ Tổng thõng, Bộ Tổng tham mưu, Nha Cảnh sát, các bộ thuộc chính quyền Sài Gòn và cả đơn vị quân đội, chính quyền ngụy từ vĩ tuyến 17 trở vào. Hệ thống cơ quan tình báo Mỹ - ngụy phát triển, gồm nhiều tổ chức công khai và trá hình. Cụ thể là: Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), chỉ huy mọi hoạt động tình báo ở Việt Nam 1954-1975; Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ (DIA) là cơ quan tình báo quân sự Mỹ, chỉ đạo toàn bộ hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam; Phái đoàn Quân sự Mỹ tại Sài Gòn (SMM) làm nhiệm vụ cố vấn, tổ chức, huấn luyện tình báo cho quân đội, an ninh, cảnh sát của chính quyền Sài Gòn; Phái đoàn cố vấn tổ chức huấn luyện (ATOM) do CIA chỉ đạo là cơ quan đặc trách viện trợ của Mỹ cho quân đội và an ninh, cảnh sát của chính quyền Sài Gòn; Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MAAG-VN), chuyên theo dõi tình hình chiến sự miền Nam Việt Nam; Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) thuộc Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ, thực hiện nhiệm vụ viện trợ và huấn luyện lực lượng vũ trang ngụy Sài Gòn; các cơ quan Tình báo lục quân Mỹ (AI), cơ quan Tỉnh báo không quản Mỹ (AFI), cơ quan Tình báo hải quân Mỹ (NI) chỉ đạo hoạt động tình báo lục - hải - không quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam. Tháng 6-1954, Đại tá tình báo Mỹ Lansdale đến Sài Gòn để tổ chức mạng lưới tình báo, nắm tình hình và tìm biện pháp lập chính quyền thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Để đàn áp, tiêu diệt phong trào cách mạng và tận diệt các cơ sở Cộng sản ở miền Nam Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã lập một hệ thống tình báo dày đặc từ trung ương đến địa phương. Cụ thể là các tổ chức: Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo thuộc Tổng thống Phủ do Ngô Đình Nhu phụ trách; 3 tổ chức tình báo trá hình mang tên Sở Nghiên cứu Chính trị xã hội do Trần Kim Tuyến làm Giám đốc, Sở Liên lạc do Lê Quang Tung chỉ huy, Liên đội Biệt động1 (Còn gọi là Liên đội Quan sát I) chuyên huấn luyện gián điệp biệt kích. Các cơ quan an ninh quân đội, an ninh, cảnh sát địch hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, ở mọi địa bàn, kể cả hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam. Sau này còn có các tổ chức trá hình như Bộ Chiêu hồi, Ủy ban Phượng Hoàng v.v... | |
|
Logged


