PHAN TỐN (1921- 1960)
Đồng chí Phan Tốn, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1921, tại Xóm Miếu, làng Thọ Khương, tổng Đức Hoà, phủ Tam Kỳ, nay thuộc thôn 6, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, trong gia đình trung nông. Bà con trong làng thường gọi là Phan Huyển, Hai Huyển. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, bạn bè còn đặt cho đồng chí tên “Tồn” (có nghĩa là trường tồn, ý muốn chỉ đồng chí tuy thân người nhỏ thó nhưng chịu đựng dai dẳng trước những đòn tra tấn của địch); từ tên này, đồng chí đổi lại là Phan Tốn.
Từ nhỏ, Phan Huyển đã tỏ rõ tư chất thông minh, quyết đoán. Năm lên 11 tuổi, đang học lớp nhì đệ nhị thì thân sinh qua đời. Từ đó, gia đình bắt đầu lâm vào cảnh khó khăn, phải trả ruộng thuê, bán trâu, đi làm thuê kiếm sống. Thương mẹ, thương em, Phan Huyển không chịu đi học nữa mà mong muốn được chia sẻ những khó khăn với gia đình, sau đó xin đi dạy học để giúp đỡ mẹ nuôi các em.
Thấy Phan Huyển cần cù lại thông minh, nhanh nhẹn nên người bác họ (bác Hượt) khuyên gia đình đưa Huyển về nhà mình chăm nuôi. Tại đây, Phan Huyển được con trai bác Hượt là anh Phan Toản (Bốn Toản)1 giác ngộ cách mạng. Sau đó, được một số đảng viên trong vùng như Nguyễn Thế Kỷ (sau này là đại biểu Quốc hội khoá I), Lê Sửu (Lê Tấn Sửu), Phan Tuyển (Phan Quang Trọng), Phan Thị Nể …, giúp đỡ, tuyên truyền về cách mạng.
Năm 1935, Phan Huyển được đồng chí Lê Sửu, đảng viên thuộc chi bộ An Hà phân công làm liên lạc cho chi bộ Đảng. Hàng ngày, Huyển được giao nhiệm vụ mang thuốc Bắc đi bán dạo nhưng đồng thời mang tài liệu mật đến các cơ sở trong vùng. Đây là công việc rất nguy hiểm, nhưng đồng chí rất hăng hái, say sưa với công việc này và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được chi bộ Đảng tin cậy. Có lúc, để thử thách Phan Huyển, đồng chí Lê Sửu hỏi: “Hai Huyển nè, nếu chẳng may có người gọi em, bảo đưa tao xem mày bán gì, thì em làm sao?”. Huyển nhanh nhẹn đáp ngay: “Anh yên tâm. Em để tài liệu giữa mấy tờ bạc rồi để bên góc mấy hộp thuốc. Trường hợp ấy, em bình tĩnh để hộp xuống “mời ông xem”. Thế rồi, em nhanh tay rút bạc cầm chạy. Vừa chạy em vừa bỏ tài liệu vào miệng nhai nuốt. Chúng sẽ đuổi theo em. Lúc bắt được, trên tay em chỉ có tiền. Em sẽ bảo: tui tưởng các ông dựt tiền nên tui cầm tiền chạy. Đây này, tui mới bán được mấy đồng đây”. Rồi đồng chí nói tiếp: Nhưng lỡ ra chúng lấy được tài liệu mà tra tấn bảo em chỉ người, chỉ cơ sở cách mạng thì em sẽ không chỉ. Chúng đánh mấy em cũng chịu được. Em không bao giờ làm hại cách mạng đâu”.
Do hoạt động tích cực, tháng 6 năm 1939, Phan Huyển được đồng chí Lê Sửu giới thiệu tham gia vào tổ chức Thanh niên Tân Tiến. Từ ngày vào tổ chức, đồng chí rất phấn khởi vì biết đây là tố chức quần chúng gần Đảng nhất và nửa năm sau thì được cử làm thư ký của tổ chức này.
Sau nhiều năm thử thách, tháng 02 năm 1940, qua giới thiệu của đồng chí Lê Sửu, chi bộ An Hoà tổ chức kết nạp Phan Huyển vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau đó không lâu, được cử vào ban chi uỷ phụ trách xóm Xuân Quang. Đến tháng 7 năm 1940, được cử làm Chi ủy viên liên chi bộ xã. Tháng 8 năm 1940, làm Ủy viên dự khuyết Phủ uỷ Tam Kỳ, phụ trách liên xã cũ. Tháng 10 năm 1941, phụ trách tổng Đức Hoà và một làng của tổng An Hoà. Ở đây, đồng chí đã phát triển đảng viên mới, củng cố được ba chi bộ ở 3 xã của tổng An Hoà.
Tháng 11 năm 1941, Phan Huyển được cử làm phủ Ủy viên chính thức của Phủ uỷ Tam kỳ, phụ trách 7 chi bộ của hai tổng Đức Hoà và An Hoà. Đến tháng 3 năm 1942, được rút về công tác ở tỉnh và phân công phụ trách cơ quan ấn loát của Xứ uỷ Trung Kỳ. Những ngày đầu làm việc ấn loát, dụng cụ thô sơ, cơ sở phải mượn nhà ông Lương Kình, xã Diêm Trường. Nhờ sự khiêm nhường, cần mẫn, đồng chí được gia đình này thương yêu, đùm bọc. Những bữa ăn, gia đình thường ưu ái, bữa ăn nào họ cũng chọn lựa những củ khoai lang tròn trĩnh, không sùng hà giành riêng mang vào nhưng chẳng bao giờ đồng chí chịu nhận, mà đem ra cùng ăn với gia đình. Sự tin yêu của quần chúng đã càng thôi thúc đồng chí hăng say với công việc và thầm mong mau đến ngày cách mạng thắng lợi để đồng bào bớt đói khổ.
Trong thời gian công tác ở cơ quan ấn loát, đồng chí vừa tham gia viết bài, vừa đảm trách cả khâu in ấn. Mặc dù công cụ in thô sơ, in bằng đông sương (rau đá lấy dưới biển về phơi thật khô, ban đêm trải ra lấy sương, ròi lại phơi khô, làm 3-4 lần như thế thì rau đá rất trắng), lại làm trong điều kiện bí mật, nhưng đồng chí đã miệt mài, công phu làm việc nên đã thành công, những tờ báo in bằng đông sương ra đời, góp phần đưa thông tin đến các tổ chức cơ sở.
Giữa năm 1942, địch có lệnh truy nã dán khắp nơi, kể cả ở đình, chùa, miếu mạo, ai bắt được Võ Toàn, Phan Huyển, Phạm Thị Đợi (Cơ) thì chính phủ sẽ thưởng cửu phẩm, bát phẩm, thất phẩm, … Trong thời gian truy lùng, chúng dùng thủ đoạn hết sức hèn hạ và thâm độc là niêm phong nhà, bắt mẹ và các em của đồng chí tra tấn đánh đập, bắt phải kêu khóc gọi người thân về. Mặc dù nghe rõ từng tiếng mẹ mình, tiếng giày đinh, tiếng roi quất, tiếng quát nạt của kẻ thù đối với mẹ mình, tuy rất đau lòng, nhưng không vì thế mà đồng chí đầu hàng.
Biết không thể dụ được Phan Huyển, địch dùng thủ đoạn đốt khu rừng mà biết chắc người cộng sản bị truy lùng đang ẩn nấu, song cuối cùng chúng đều thất bại trước ý chí, sự nhạy bén, bình tĩnh, nhanh nhẹn, mưu trí của Phan Huyển. Trước đó, đồng chí đã đoán chắc địch sẽ dùng thủ đoạn này, rồi tìm cách thoát ra khỏi vòng vây, vượt lên núi.
Vào cuối năm 1942, do bị lộ nơi đóng cơ quan ấn loát của Xứ uỷ, Phan Huyển bị địch bắt tại Duy Xuyên. Trước khi đưa về giam cầm ở nhà lao Hội An, đồng chí bị địch liên tục tra tấn, khai thác nhằm tìm ra nơi đóng cơ quan đầu não, nhưng đồng chí đã giữ trọn khí tiết, vẫn kiên trung bất khuất. Không khai thác được gì, chúng đưa Phan Huyển về giam cầm ở nhà lao Hội An. Trong nhà lao, bất chấp địch sẽ khủng bố, đàn áp dã man những người tham gia đấu tranh, vẫn hăng hái, tham gia tích cực các phong trào đấu tranh đòi cải thiện chế độ giam cầm.
Đầu năm 1943, biết Phan Huyển là một trong những tù nhân “cứng đầu”, thường đấu tranh mạnh mẽ trong tù, chúng đày vào Buôn Ma Thuột. Trong nhà tù này, mặc dù chế độ canh gác nghiêm ngặt, chế độ ăn uống hết sức tồi tệ, lại thường xuyên bị đàn áp, khủng bố nhưng vẫn không làm đồng chí nao núng. Mà còn tham gia tích cực các cuộc đấu tranh do chi bộ nhà lao phát động. Do biết Phan Huyển là một trong những người cầm đầu các cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ trong tù, địch tăng án từ 5 năm lên 12 năm tù giam.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, tù nhân chính trị ở Buôn Ma Thuột đấu tranh mạnh mẽ đòi thả tù chính trị giành thắng lợi, Phan Huyển được đảng bộ nhà lao phân công về tham gia lãnh đạo chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Nam, Tháng 5 năm 1945, được cử vào Ban Tỉnh uỷ lâm thời và Ủy ban bạo động khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh Quảng Nam, phụ trách phủ Điện Bàn. Từ khi nhận trách nhiệm, đồng chí liện tục đi tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia ủng hộ Việt Minh, hưởng ứng các phong trào, chuẩn bị cho khởi nghĩa. Tháng 8 năm 1945, tổng khởi nghĩa nổ ra, phủ Điện Bàn là một trong nhữn địa phương có phong trào quần chúng nổi dậy đông đảo, mạnh mẽ, góp phần cùng toàn tỉnh nổi dậy khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyến về tay nhân dân.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, với tên gọi Phan Tốn, đồng chí được điều về Thường trực cơ quan Tỉnh uỷ, phụ trách công tác huấn luyện của Đảng bộ và Ủy ban Việt Minh tỉnh. Tháng 12 năm 1946, được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, làm đặc phái viên của Ủy ban Kháng chiến tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng, phụ trách huyện Hoà Vang.
Thực hiện chủ trương của Liên khu 5 về việc nâng cao trình độ văn hoá cho cán bộ chủ chốt các tỉnh, năm 1948, đồng chí được cử đi học lớp bổ túc văn hoá ở liên khu. Sau khi mãn khoá học, từ tháng 6 năm 1949, được Liên khu uỷ 5 điều động vào Tây Nguyên, chỉ định vào Thường vụ Ban cán sự Đảng tỉnh Đắc Lắc, lần lượt được phân công đảm trách các công tác dân vận, Văn hoá- Thông tin tỉnh Đắc Lắc. Mặc dù đây là địa bàn công tác mới đầy khó khăn, phức tạp, song ở vị trí công tác nào đồng chí cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần phát triển phong trào cách mạng trên đất Tây Nguyên.
Tháng 8 năm 1951, đồng chí được Liên khu uỷ 5 cử đi học lớp lý luận chính trị Mác - Lênin tại Trung Quốc và đến đầu năm 1953 thì về làm công tác giảng dạy tại trường Đảng của Liên khu uỷ 5, rồi tham gia mở lớp chỉnh huấn, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ liên khu và cán bộ chủ chốt các tỉnh. Năm 1953, được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng.
Sau ngày ký hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí được Đảng phân công ở lại công tác miền Nam, được chỉ định vào Tỉnh uỷ bí mật của Tỉnh uỷ Quảng Nam. Đầu tháng 9 năm 1954, được phân công về chỉ đạo địa bàn Thăng Bình. Trong lúc đang họp với lãnh đạo huyện để bàn công tác chuẩn bị đối phó với địch thì nhận được tin nổ ra cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân Hà Lam - Chợ Được, bắt đầu từ bờ dương thôn Tất Viên (nay là xã Bình Phục), mặc dù đây là cuộc họp quan trọng, lại cách nơi đấu tranh vài ba cây số, nhưng với sự nhạy bén, dự đoán chắc tình hình và quyết định phải đến kịp thời tìm cách đối phó. Với kinh nghiệm, sự bình tĩnh, đồng chí vừa tìm cách vận động những người cầm đầu và quần chúng thấy được âm mưu, thủ đoạn của địch, những tổn thất của đấu tranh khi điều kiện chưa chín muồi, đồng thời cử cán bộ vào lập nhóm liên hiệp hai bên tại Dốc Sỏi để thương thảo và kịp thời tố cáo tội ác của đối phương, nhờ đó đã góp phần kết thúc sớm cuộc đấu tranh, hạn chế những tổn thất cho phong trào.
Năm 1955, đồng chí được chỉ định làm quyền Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Nam- Đà Nẵng và đến tháng 7 năm 1955, thì chính thức làm Bí thư Tỉnh uỷ kiêm phụ trách tờ báo “Quyết Tiến”. Một đóng góp to lớn của đồng chí trong thời gian này ngoài lãnh đạo quân và dân trong tỉnh đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống âm mưu, thủ đoạn của địch trả thù những người tham gia kháng chiến cũ, mà còn bình tĩnh, kiên định, sáng suốt lãnh đạo nhân dân từng bước đối phó với âm mưu, thủ đoạn, uốn nén kịp thời những tư tưởng nóng vội của một bộ phận cán bộ muốn trả thù bọn quốc dân Đảng nhân cơ hội chúng đầu hàng Ngô Đình Diệm, đồng thời quán triệt quan điểm đúng đắn của Đảng ta trước sau như một là “tranh thủ”, từng bước làm cho hướng về chính nghĩa. Với sự kiên định và sáng suốt đó, bài xã luận “Đối sách của ta đối với Quốc dân Đảng” trên báo “Quyết tiến” do đồng chí chấp bút, được đông đảo cán bộ, đảng viên hoan nghênh.
Tháng 3 năm 1959, đồng chí được bổ sung vào Liên khu uỷ 5 và tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vào tháng 01 năm 1960, được bầu làm đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tháng 7 năm 1960, trong thời gian ở Hà Nội chuẩn bị tham dự Đại hội Đảng, sau khi đã hoàn thành báo cáo với Trung ương Đảng và Bác Hồ về tình hình ở Quảng Nam, căn bệnh sỏi thận của đồng chí ngày càng trầm trọng đến ngày 09 tháng 7 năm 1960, đồng chí qua đời tại bệnh viện hữu nghị Việt - Xô, Hà Nội. Được tin đồng chí Phan Tốn mất, lúc 9 giờ tối hôm đó, Bác Hồ đến thăm hỏi, động viên gia đình, ân cần dạy bảo, tặng cam cho đứa con trai duy nhất của đồng chí là Phan Đình Chiến - lúc này mới lên 5 tuổi.
Cuộc đời đồng chí Phan Tốn từ ngày bước chân vào cách mạng cho đến lúc hy sinh, là một quãng đời chiến đấu liên tục, không mệt mỏi. Đặc biệt, tính thường trực cách mạng và tự giác ở đồng chí được thể hiện rất cao. Đồng đội đồng chí kể lại: những năm hoạt động ở vùng địch hậu của tỉnh ĐắcLắc, thường quá trưa mới nghỉ ngơi. Những ngày mưa, trước khi đi ngủ bao giờ cũng đi quan sát dấu chân trên mặt đất, trên đá dọc suối mới yên tâm. Lúc hoạt động ở Quảng Nam trong những năm 1955 - 1959, không có chăn chiếu thì tìm vỏ bao xi măng, tối thọc chân vào bao để chống muỗi. Hôm nào cũng chờ đồng đội ngủ trước, còn mình đi quan sát để nghe thử tiếng ngáy có lớn không để chuyển địa điểm… Nhờ tinh thần cảnh giác cao nên đã góp phần tránh được những thiệt hại, tránh lộ bí mật, nhất là thời kỳ 1954 - 1959, lúc trú chân hoạt động ở chân núi Bồ Bồ (xã Điện Tiến).
Đồng chí là cán bộ đầy tâm huyết và trách nhiệm. Năm 1960, lúc ra dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III tại Hà Nội, lúc này bệnh của đồng chí ngày càng trầm trọng, các đồng chí lãnh đạo Trung ương bảo đồng chí cứ tham dự xong Đại hội rồi sẽ phẫu thuật, nghỉ dưỡng một thời gian rồi về miền Nam, song với trách nhiệm với quê hương, với miền Nam, đồng chí kiên quyết đòi chữa trị trước Đại hội là về ngay miền Nam để triển khai nghị quyết. Đồng chí là tấm gương về tinh thần tự học, tranh thủ mọi lúc mọi nơi để học khi có thể. Trong túi xách của mình lúc nào cũng mang theo nến, bút, giấy để từ học. Hằng đêm, mỗi khi đồng đội ngủ yên thì bắt đầu tự học, học toán, học văn,làm thơ, đọc thơ Tố Hữu.
Ngoài thời gian chỉ đạo phong trào, đồng chí thường làm thơ, dùng thơ làm công cụ tuyên truyền, vận động và tự răn mình. Nhìn thấy địch bắt bà con đi học “Tố cộng”, đồng chí làm thơ và truyền cho đồng bào đọc:
“Được học lòng tôi sáng tỏ dần
Ai người nên ghét, ai nên thân
Thân ai thực sự vì dân nước
Ghét kẻ lọc lừa hại nước dân…
Đường phải ta đi ta không ngại
Ai thù, ai oán cũng chẳng cần
Vì nước, vì dân ta tranh đấu
Dù có chết đi chẳng tiếc thân”
Rồi đồng chí tự đặt vè để vạch trần tên Ngô Đình Diệm:
“Tên Diệm nào ai có lạ gì
Lịch trình bán nước, sử còn ghi
Bợ Tây, thân Nhật, danh còn đó
Ôm Mỹ sờ sờ, có tốt chi
Càng cố nêu lên tên Diệm tốt
Càng thêm xấu hổ, chẳng thêm gì
Nhân dân đâu phải không tai mắt
Mà muốn nói gì cũng được đi”
Trong hoạt động cách mạng, đồng chí là người rất bản lĩnh, đầy cá tính, không vội vàng trong công việc đưa ra các quyết định hệ trọng, trong lòng luôn chứa đựng tinh thần quật khởi, không khuất phục trước quân thù. Minh chứng rõ nhất là vào năm 1942, lúc đồng chí đang hoạt động ở Duy Xuyên, đang ẩn nấu trong hang, thì bị chỉ điểm, địch cho lính ập đến bắt, mặc dù đồng chí đã tìm cách trốn thoát nhưng không kịp, bọn chúng hù doạ bảo đồng chí nhảy xuống, nếu không chúng bắn chết. Tuy vậy, đồng chí vẫn cương quyết và cho rằng: “Nếu tuân theo lời của địch tức đồng nghĩa với đầu hàng”. Những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, Đảng chủ trương đưa cán bộ ra sống hợp pháp ở thành phố để hoạt động. Bằng sự suy nghĩ chín chắn, bằng những kinh nghiệm hoạt động trong vùng địch, đồng chí không tán đồng và đã viết thư đề nghị cấp trên xem xét lại. Trong thư, mạnh dạn dẫn chứng những tổn thất nặng nề, nhiều cán bộ, đảng viên bị sát hại, bị bắt bớ giam cầm; nhiều cơ sở bị bỏ trắng vì chủ trương này. Sau đó, ý kiến của đồng chí được Đảng chấp nhận, huỷ bỏ chủ trương trên.
Trong đời sống, đồng chí rất giản dị, gần gũi, sâu sát quần chúng, luôn quan tâm nắm bắt tâm tư nguyện vọng của dân, được dân thương yêu, mến phục và che chở, bảo vệ. Là người sôi động nhưng trong quãng đời hoạt động bí mật, đồng chí rất chín chắn, thể hiện một bản lĩnh, một kinh nghiệm dày dặn trong cảnh giác cách mạng. Có lẽ vì tính cẩn mật ấy nên đồng chí ít bị địch bắt, tù đày. Bài học lớn trong đòng chí là ý thức tổ chức, không chùn bước, không dao động, không thủ tiêu đấu tranh, không sợ gian khổ, không khuất phục, bình tĩnh sáng suốt lúc hiểm nguy, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Việc chọn người bạn đời, lập gia đình ở đồng chí Phan Tốn cũng quan niệm giản đơn. Đối với đồng chí, người bạn đời của mình phải biết yêu cách mạng, cùng chí hướng, có sức khoẻ và nhất thiết phải là người biết tự cách sinh.
Sau khi đồng chí Phan Tốn từ trần đồng chí Võ Chí Công đã gửi thư cho gia đình với nội dung: “Đời của anh là cả một cuộc đời chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh và trung dũng từ mười mấy tuổi đã tham gia cách mạng, lúc hoạt động ở nhà, lúc thoát ly, lúc bị bắt chiến đấu trong tù, khi ra tù là tiếp tục hoạt động. Ròng rã 25 năm trời hoạt động cách mạng, lặn lội biết bao trong phong ba, chịu biết bao cay đắng, nhưng anh không hề biết mệt mỏi, không hề nghỉ ngơi một giờ phút nào. Rõ ràng là một cán bộ tần trung với nước, tận hiếu với dân, hết lòng với Đảng. Về đạo đức cách mạng càng đáng nêu gương, như: “…bần tiện bất di, oai vũ bất khuất” và suốt đời “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
Với những đóng góp của mình đồng chí được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhất; Huân chương Thành đồng hạng Nhất.
1 Đồng chí Phan Toản tham gia cách mạng, bị địch bắt, tra tấn rất dã man. Năm 1945 ra tù nhưng sau đó từ trần vì di chứng của những trận đòn tra tấn trong tù.


